10/02/2012,Máy Nén Khí

DYNA Compressor Group - http://www.aircompressor.vn
Nghị Tín là một trong những công ty phục vụ cho ngành máy nén khí trục vít sớm nhất tại thị trường Việt Nam Ngành công nghiệp Việt Nam hiện nay ngày càng hiện đại hóa và tự động hóa , nhu cầu về máy nén khí ngày càng nhiều hơn.Trong khi đó Nghi Tín đã tích lũy được nhiều năm kinh nghiệm phục phụ khách hàng và ngày càng có uy tín thương hiệu hơn trong ngành. (Kỹ sư đều có bằng kỹ thuật của chính hãng DYNA Compressor )
Máy nén khí tại Công Ty Nghị Tín thì luôn luôn có sẵn để cung cấp cho khách hàng, đi song song đó, Nghị Tín có một đội ngũ cán bộ kỹ thuật giàu kinh nghiệm sẵng sàng tư vấn phục vụ cho khách hàng về máy nén khí, về thiết kế đường ống dẫn khí và luôn đưa ra các giải pháp tốt nhất cho khách hàng nhằm giải quyết mọi vấn đề cho xưởng sản xuất về độ ồn, hàm lượng dầu và nước trong không khí, Sử dụng công suất máy hợp lý để tiết kiệm chi phí sản xuất cho các doanh nghiệp.
Những ưu thế hoạt động vượt trội trên thị trường:
Chất Lượng : Máy nén khí DYNA có nguồn gốc chế tạo từ ROTORCOMP (Một tập toàn hàng đầu thế giới về kỹ thuật chế tạo trục vít, và nổi tiếng về công nghệ áp suất của CHLB Đức)
Giá Thành: Máy nén khí DYNA được chế tạo theo công nghệ của Đức và lắp ráp tại Đài Loan (có nguồn kỹ thuật lắp đặt, chế tạo và cơ khí chính xác ổn định nhất tại khu vực Châu Á) nên Quý khách hàng có thiết bị chất lượng Châu Âu mua với giá cạnh tranh của Châu Á.
Thời Gian :Tại Việt Nam máy nén khí DYNA luôn có hàng sẵn với nhiều chủng loại công suất đáp ứng mọi nhu cầu cho khách hàng , về thời gian giao hàng.
Bảo Hành: Mọi thiết bị chúng tôi bán ra đều có đội ngũ cán bộ kỹ thuật tới tận nhà xưởng kiểm tra và chăm sóc máy hàng tháng.
Chi Phí Bảo Trì: Chúng tôi có một bảng giá cố định cho các loại phụ tùng tiêu hao phẩm kèm theo hợp đồng, tuyệt đối không bán máy xong, lấy giá cao cho chi phí bảo trì tạo lợi nhuân . Máy nén khí DYNA là thiết bị lưu lượng lớn công suất thấp (Phân tích tại Đặc tính kỹ thuật trong www.maydien.com) Công ty Nghị Tín đảm bảo bán hàng chính hãng đúng chất lượng và thông số kỹ thuật, đồng thời chúng tôi có sẵn các loại phụ tùng (Các dòng máy được SX trong vòng 20 năm) để phục vụ cho Quý khách hàng.
Thanh Toán: Chúng tôi có nhiều phương thức thanh toán linh động, đồng thời có thể tạo điều khiện trả chậm cho Quý khách hàng.
Năng Lực: Chúng tôi đã cung cấp máy nén khí cho hơn hai trăm doanh nghiệp danh tiếng trong và ngoài nước điển hình như:
- Tập Đoàn may mặc Triple (Một doanh nghiệp lớn nhất Đài Loan vè ngành may mặc) Tập Đoàn MASAN (Chin Su food), Cty Nhựa Tân Hiệp Hưng ; Cty Bao Bì Vishingpack.
- Gas Thành Tài ;Bao bì Phương Nam; Nhựa Minh Hùng; Saigon Funiture; Dệt Nam Định ; Tập Đoàn Sun Steel..v.v .. KOK FENG VN, Z.C international. Cty TNHH Đồ Dùng Gia Đình Việt Nam …
Lĩnh Vực Kinh Doanh:
- Máy nén khí Trục Vít: Công Suất : 5~500 HP ; Áp Suất : 7 ~ 15 Bar
- Máy nén khí PISTON: Công Suất : 5 ~ 300 HP Áp Suất : 7 ~ 100 Bar
- Máy nén khí PISTON Không Dầu: Công Suất : 20 ~ 300 HP Áp Suất : 7 ~ 35 Bar
- Máy sấy khô Ngưng Tụ: Lưu lượng sấy : 380 Nm3/min ; Áp Suất : 7 ~ 60 Bar
- Máy sấy khô Hấp Thụ: Lưu Lương sấy : 120 Nm3/min ; Áp Suất :10 Bar ;Độ khô : -70
- Bình Chứa Khí: Dung Tích : 0,1m3 ~ 20m3 ; Áp Suất : 7~100 Bar.
- Bộ Lọc Tinh: Lưu Lượng lọc 380 Nm3/min ; Độ sạch : 0,01 ppm.
- Máy lọc hàm lượng dầu: Độ sạch : Đạt không dầu ; Áp Suất : 9 Bar.
20/01/2010,Máy Nén Khí
Trước khi phanh khí nén ra đời, các đoàn tàu hỏa sử dụng một hệ thống phanh thô sơ cần có người điều khiển ở mỗi toa (gác hãm, gác phanh) để kéo tay phanh khi có hiệu lệnh của lái tàu. Kiểu phanh thô sơ và kém hiệu quả này sau đó được thay thế bằng hệ thống phanh nén khí trực tiếp.
Các xe đầu kéo, xe buýt và tàu hỏa đều sử dụng phanh khí nén mà không lựa chọn phanh thủy lực bởi vì khi có hiện tượng rò rỉ, dầu phanh có thể bị chảy hết khỏi hệ thống hãm, còn phanh khí nén không bị như vậy. Mặt khác, các phương tiện vận tải hạng nặng (cả người và hàng hóa) yêu cầu về độ an toàn rất cao, một đoàn tàu với tải trọng hàng nghìn tấn hàng hóa, hàng trăm hành khách, với động năng lớn, tốc độ cao, sẽ trở thành đoàn tàu "tử thần" khi dầu phanh bị rò rỉ.

Mặt cắt dọc phanh khí nén.
Sử dụng hệ thống phanh nén khí trực tiếp, tức là sử dụng một máy nén khí cung cấp khí nén thông qua một đường ống dẫn vào bình chứa khí của mỗi toa tàu. Khi lái tàu nhấn phanh, các đường ống được nạp đầy khí nén để ép cứng các "má" phanh.
Năm 1869, một kỹ sư tên là George Westinghouse đã nhận ra tầm quan trọng của tính an toàn đối với ngành công nghiệp ĐS non trẻ lúc bấy giờ đã sáng chế ra hệ thống phanh khí nén sử dụng van ba ngả (còn gọi là van 3 cửa) đầu tiên, dùng cho xe chở khách chạy trên đường ray. Phanh của Westinghouse có nguyên lý hoạt động ngược hẳn so với hệ thống phanh khí nén trực tiếp. Van 3 ngả có 3 cửa nối với 3 đường khí khác nhau: một cửa dành cho ống dẫn chính từ bình tích khí, một cửa dẫn tới các xi lanh công tác của cơ cấu phanh và cửa còn lại thông với các bình chứa phụ; và như vậy, một hệ thống "can 3 ngả" sẽ thực hiện các chức năng sau: Nạp khí: hệ thống cần được nạp đầy khí nén thì mới có thể nhả phanh; nghĩa là khi đoàn tàu không hoạt động, nó luôn trong tình trạng được phanh. Chỉ khi áp suất trong hệ thống đạt tới mức thích hợp (thông thường là 5 kg/cm2) thì cơ cấu phanh mới thôi tác dụng, tàu hỏa sẵn sàng khởi hành. Hãm phanh: khi lái tàu kéo (đạp) phanh thì áp suất trong hệ thống sẽ giảm xuống. Khi lượng khí trong hệ thống giảm thì "van 3 ngả" sẽ cho phép khí hồi về các bình chứa, cơ cấu hãm sẽ thực hiện chức năng phanh (hãm tàu). Nhả phanh: sau khi thực hiện tác dụng phanh, một lượng khí nén sẽ bị xả ra ngoài, sau đó áp suất trong hệ thống được tăng để nhả phanh. Thay vì dùng lực cơ học hay áp suất khí nén trực tiếp để tác dụng phanh giống như phanh thủy lực hiện nay. George Westinghouse sử dụng một bình chứa luôn được cung cấp đầy khí nén ở áp suất công tác để nhả phanh. Nói cách khác, chế độ phanh trong hệ thống "van 3 ngả" luôn được duy trì hoàn toàn cho đến khi có một lượng khí nén bị đẩy ra ngoài không khí. Điểm an toàn nhất ở đây là giả sử toàn bộ khí nén bị rò rỉ hết ra ngoài thì mặc nhiên cơ cấu phanh sẽ được kích hoạt một cách tự động và cả đoàn tàu được hãm lại. Trong khi đó, nếu sử dụng phanh thủy lực, khi dầu phanh bị rò rỉ hết ra ngoài thì thực sự là một thảm họa
Các xe đầu kéo, xe buýt và tàu hỏa đều sử dụng phanh khí nén mà không lựa chọn phanh thủy lực bởi vì khi có hiện tượng rò rỉ, dầu phanh có thể bị chảy hết khỏi hệ thống hãm, còn phanh khí nén không bị như vậy. Mặt khác, các phương tiện vận tải hạng nặng (cả người và hàng hóa) yêu cầu về độ an toàn rất cao, một đoàn tàu với tải trọng hàng nghìn tấn hàng hóa, hàng trăm hành khách, với động năng lớn, tốc độ cao, sẽ trở thành đoàn tàu "tử thần" khi dầu phanh bị rò rỉ.

Mặt cắt dọc phanh khí nén.
Sử dụng hệ thống phanh nén khí trực tiếp, tức là sử dụng một máy nén khí cung cấp khí nén thông qua một đường ống dẫn vào bình chứa khí của mỗi toa tàu. Khi lái tàu nhấn phanh, các đường ống được nạp đầy khí nén để ép cứng các "má" phanh.
Năm 1869, một kỹ sư tên là George Westinghouse đã nhận ra tầm quan trọng của tính an toàn đối với ngành công nghiệp ĐS non trẻ lúc bấy giờ đã sáng chế ra hệ thống phanh khí nén sử dụng van ba ngả (còn gọi là van 3 cửa) đầu tiên, dùng cho xe chở khách chạy trên đường ray. Phanh của Westinghouse có nguyên lý hoạt động ngược hẳn so với hệ thống phanh khí nén trực tiếp. Van 3 ngả có 3 cửa nối với 3 đường khí khác nhau: một cửa dành cho ống dẫn chính từ bình tích khí, một cửa dẫn tới các xi lanh công tác của cơ cấu phanh và cửa còn lại thông với các bình chứa phụ; và như vậy, một hệ thống "can 3 ngả" sẽ thực hiện các chức năng sau: Nạp khí: hệ thống cần được nạp đầy khí nén thì mới có thể nhả phanh; nghĩa là khi đoàn tàu không hoạt động, nó luôn trong tình trạng được phanh. Chỉ khi áp suất trong hệ thống đạt tới mức thích hợp (thông thường là 5 kg/cm2) thì cơ cấu phanh mới thôi tác dụng, tàu hỏa sẵn sàng khởi hành. Hãm phanh: khi lái tàu kéo (đạp) phanh thì áp suất trong hệ thống sẽ giảm xuống. Khi lượng khí trong hệ thống giảm thì "van 3 ngả" sẽ cho phép khí hồi về các bình chứa, cơ cấu hãm sẽ thực hiện chức năng phanh (hãm tàu). Nhả phanh: sau khi thực hiện tác dụng phanh, một lượng khí nén sẽ bị xả ra ngoài, sau đó áp suất trong hệ thống được tăng để nhả phanh. Thay vì dùng lực cơ học hay áp suất khí nén trực tiếp để tác dụng phanh giống như phanh thủy lực hiện nay. George Westinghouse sử dụng một bình chứa luôn được cung cấp đầy khí nén ở áp suất công tác để nhả phanh. Nói cách khác, chế độ phanh trong hệ thống "van 3 ngả" luôn được duy trì hoàn toàn cho đến khi có một lượng khí nén bị đẩy ra ngoài không khí. Điểm an toàn nhất ở đây là giả sử toàn bộ khí nén bị rò rỉ hết ra ngoài thì mặc nhiên cơ cấu phanh sẽ được kích hoạt một cách tự động và cả đoàn tàu được hãm lại. Trong khi đó, nếu sử dụng phanh thủy lực, khi dầu phanh bị rò rỉ hết ra ngoài thì thực sự là một thảm họa
20/01/2010,Máy Nén Khí

Đối với ngành chế biến thực phẩm, hệ thống cung cấp khí nén có vai trò khá quan trọng, hệ thống này thường tiêu tốn năng lượng khá lớn. Tuy vậy, việc sử dụng năng lượng hiệu quả ở khâu quan trọng này vẫn chưa được nhiều doanh nghiệp (DN) quan tâm. Ông Phạm Huy Phong, Trưởng Phòng Kỹ thuật Trung tâm Tiết kiệm Năng lượng TPHCM (ECC), phân tích: Nhiều DN lãng phí năng lượng ở khâu này là do chưa sử dụng hợp lý áp suất máy nén khí, dẫn đến lãng phí năng lượng.
Thực trạng thường thấy
Khảo sát hệ thống khí nén ở một DN sử dụng 2 máy nén khí trục vít hiệu Atlas Copco công suất điện 30 KW. Hai máy hoạt động luân phiên mỗi ngày và thời gian vận hành trong ngày là liên tục 24 giờ. Hai máy có chung một bình chứa khí nén thể tích 1,7 m3 và có chung đường ống phân phối khí nén. Khí nén được cài đặt trong khoảng 5,5 -6,5 kg/cm2.
Khí nén được DN này sử dụng cho các nhu cầu sau: Chủ yếu cung cấp cho các lò thanh trùng với áp suất khoảng 1,5 kg/cm2 trong suốt thời gian thanh trùng. Phần này chiếm khoảng 80% tổng nhu cầu khí nén.
Cung cấp khí nén phun sương hơi nước làm nguội cá sau khi hấp trong phòng làm nguội. Phần này chiếm khoảng 10% tổng nhu cầu khí nén.
Cung cấp khí nén cho các cơ cấu chấp hành khí nén trong dây chuyền chế biến cá. Phần này chiếm khoảng 10% tổng nhu cầu khí nén.
Vấn đề bất cập ở đây là: Khí nén được tạo ra từ máy nén khí ở áp suất 5,5 – 6,5 kg/cm2, tuy nhiên 80% lượng khí nén này được đưa vào sử dụng cho các lò thanh trùng chỉ ở áp suất 1,5 kg/cm2. Cần phải cài đặt áp suất khí nén ở mức cao là vì phải bảo đảm đủ cung cấp khí nén cho các lò thanh trùng ngay cả khi có một số lò trùng nhau về thời điểm bắt đầu thanh trùng. Tức là ngay cả những lúc xảy ra sự đột biến tăng về nhu cầu khí nén. Do lưu lượng khí nén trong trường hợp áp suất cao hay thấp khi sử dụng cho các lò thanh trùng đều như nhau nên việc cài đặt áp suất khí nén ở áp suất cao về mặt lý thuyết sẽ làm gia tăng công nén, gây lãng phí năng lượng cho hệ thống nén khí.
Cách hợp lý hóa áp suất máy nén khí
Sau khi khảo sát, chuyên viên ECC đã đưa ra giải pháp. Tách riêng phần khí nén dùng phun sương (10%) và phần khí nén cung cấp cho các cơ cấu chấp hành (10%) với phần khí nén cho các lò thanh trùng (80%) theo phương án sau:
Phần khí nén cung cấp cho các lò thanh trùng được cung cấp riêng biệt từ 1 máy nén hiện tại.
Phần khí nén cung cấp cho các cơ cấu chấp hành có thể có được bằng 2 cách: Sử dụng 1 máy nén còn lại (cài đặt ở 5,5-6,5 kg/cm2) hoặc đầu tư riêng một máy nén nhỏ có năng suất vừa đủ (máy khoảng 5Hp).
Phần khí nén cung cấp cho phun sương: Sử dụng chung máy nén còn lại hiện tại (cài đặt ở 5,5 - 6,5 kg/cm2) hoặc sử dụng chung máy nén đầu tư riêng thêm (lúc này cần máy có công suất điện khoảng 10 Hp) hoặc dùng các máy nén nước trực tiếp dùng cho việc phun sương (công suất khoảng 3 Hp).
Cài đặt áp suất hệ thống khí nén phần cung cấp cho các lò thanh trùng từ 5,5-6,5 kg/cm2 xuống 1,5-2,5 kg/cm2.
Thay thế động cơ máy nén cung cấp cho các lò thanh trùng từ công suất điện 30 KW xuống còn 18,5 KW hoặc giữ nguyên động cơ 30 KW nhưng lắp đặt biến tần điều khiển công suất động cơ.
Phương án thay đổi này, chi phí đầu tư là 110 triệu đồng. Trong khi đó, mỗi năm DN tiết kiệm được 76 triệu đồng. Như vậy, chỉ sau 17 tháng DN thu hồi được vốn đầu tư.




