
DYNA Compressor Group - http://www.aircompressor.vn
Nghị Tín là một trong những công ty phục vụ cho ngành máy nén khí trục vít sớm nhất tại thị trường Việt Nam Ngành công nghiệp Việt Nam hiện nay ngày càng hiện đại hóa và tự động hóa , nhu cầu về máy nén khí ngày càng nhiều hơn.Trong khi đó Nghi Tín đã tích lũy được nhiều năm kinh nghiệm phục phụ khách hàng và ngày càng có uy tín thương hiệu hơn trong ngành. (Kỹ sư đều có bằng kỹ thuật của chính hãng DYNA Compressor )
Máy nén khí tại Công Ty Nghị Tín thì luôn luôn có sẵn để cung cấp cho khách hàng, đi song song đó, Nghị Tín có một đội ngũ cán bộ kỹ thuật giàu kinh nghiệm sẵng sàng tư vấn phục vụ cho khách hàng về máy nén khí, về thiết kế đường ống dẫn khí và luôn đưa ra các giải pháp tốt nhất cho khách hàng nhằm giải quyết mọi vấn đề cho xưởng sản xuất về độ ồn, hàm lượng dầu và nước trong không khí, Sử dụng công suất máy hợp lý để tiết kiệm chi phí sản xuất cho các doanh nghiệp.
Những ưu thế hoạt động vượt trội trên thị trường:
Chất Lượng : Máy nén khí DYNA có nguồn gốc chế tạo từ ROTORCOMP (Một tập toàn hàng đầu thế giới về kỹ thuật chế tạo trục vít, và nổi tiếng về công nghệ áp suất của CHLB Đức)
Giá Thành: Máy nén khí DYNA được chế tạo theo công nghệ của Đức và lắp ráp tại Đài Loan (có nguồn kỹ thuật lắp đặt, chế tạo và cơ khí chính xác ổn định nhất tại khu vực Châu Á) nên Quý khách hàng có thiết bị chất lượng Châu Âu mua với giá cạnh tranh của Châu Á.
Thời Gian :Tại Việt Nam máy nén khí DYNA luôn có hàng sẵn với nhiều chủng loại công suất đáp ứng mọi nhu cầu cho khách hàng , về thời gian giao hàng.
Bảo Hành: Mọi thiết bị chúng tôi bán ra đều có đội ngũ cán bộ kỹ thuật tới tận nhà xưởng kiểm tra và chăm sóc máy hàng tháng.
Chi Phí Bảo Trì: Chúng tôi có một bảng giá cố định cho các loại phụ tùng tiêu hao phẩm kèm theo hợp đồng, tuyệt đối không bán máy xong, lấy giá cao cho chi phí bảo trì tạo lợi nhuân . Máy nén khí DYNA là thiết bị lưu lượng lớn công suất thấp (Phân tích tại Đặc tính kỹ thuật trong www.maydien.com) Công ty Nghị Tín đảm bảo bán hàng chính hãng đúng chất lượng và thông số kỹ thuật, đồng thời chúng tôi có sẵn các loại phụ tùng (Các dòng máy được SX trong vòng 20 năm) để phục vụ cho Quý khách hàng.
Thanh Toán: Chúng tôi có nhiều phương thức thanh toán linh động, đồng thời có thể tạo điều khiện trả chậm cho Quý khách hàng.
Năng Lực: Chúng tôi đã cung cấp máy nén khí cho hơn hai trăm doanh nghiệp danh tiếng trong và ngoài nước điển hình như:
- Tập Đoàn may mặc Triple (Một doanh nghiệp lớn nhất Đài Loan vè ngành may mặc) Tập Đoàn MASAN (Chin Su food), Cty Nhựa Tân Hiệp Hưng ; Cty Bao Bì Vishingpack.
- Gas Thành Tài ;Bao bì Phương Nam; Nhựa Minh Hùng; Saigon Funiture; Dệt Nam Định ; Tập Đoàn Sun Steel..v.v .. KOK FENG VN, Z.C international. Cty TNHH Đồ Dùng Gia Đình Việt Nam …
Lĩnh Vực Kinh Doanh:
- Máy nén khí Trục Vít: Công Suất : 5~500 HP ; Áp Suất : 7 ~ 15 Bar
- Máy nén khí PISTON: Công Suất : 5 ~ 300 HP Áp Suất : 7 ~ 100 Bar
- Máy nén khí PISTON Không Dầu: Công Suất : 20 ~ 300 HP Áp Suất : 7 ~ 35 Bar
- Máy sấy khô Ngưng Tụ: Lưu lượng sấy : 380 Nm3/min ; Áp Suất : 7 ~ 60 Bar
- Máy sấy khô Hấp Thụ: Lưu Lương sấy : 120 Nm3/min ; Áp Suất :10 Bar ;Độ khô : -70
- Bình Chứa Khí: Dung Tích : 0,1m3 ~ 20m3 ; Áp Suất : 7~100 Bar.
- Bộ Lọc Tinh: Lưu Lượng lọc 380 Nm3/min ; Độ sạch : 0,01 ppm.
- Máy lọc hàm lượng dầu: Độ sạch : Đạt không dầu ; Áp Suất : 9 Bar.

Sau đây là những hướng dẫn cơ bản, các trường hợp cụ thể sẽ đề cập chi tiết sau:
1. Trước khi vận hành, hãy chắc chắn rằng không có thiệt hại hay hư hỏng xảy ra hay bất kỳ rò rỉ nào.
2. Xin vui lòng xác định điện áp hoạt động, và điều chỉnh điện áp có thể được sử dụng nếu điện áp không ổn định.
3. Chắc chắn rằng Motor giảm tốc được lắp đặt cố định một cách vững chắc. Tránh bất kỳ sự lỏng lẻo khi vận hành.
4. Kiểm tra các lắp đặt một cách chắc chắn các phụ kiện như chuyền bánh xe, puly hoặc gia tốc.
5. Khi động cơ chạy, dòng điện định mức và các chỉ số không vượt quá được ghi trên nhãn..
6. Đặt máy nơi khô ráo thoáng mát, không dùng quá công suất quy định.
7. Chọn dây dẫn phù hợp tương ứng với công suất động cơ điện
8. Phải có các thiết bị bảo vệ quá dòng, quá áp, bảo vệ mất pha cho động cơ như: MCCB, MCB, Contactor, Relay nhiệt,..
9. Cấp nguồn cho động cơ đúng với điện áp, đúng sơ đồ hướng dẫn đấu dây được nối chắc chắn.
10. Kiểm tra các nối đất và an toàn khi đóng điện vận hành
11. Kiểm tra lượng dầu bôi trơn định mức
12. Thường xuyên kiểm tra các vấn đề được trình bài ở trên. Bảo dưỡng và vệ sinh thiết bị định kỳ.
Thời gian thay dầu nhớt bôi trơn được áp dụng như sau:
Đối với Motor giảm tốc bánh răng của Wansin thì được sử dụng loại dầu nhờn chuyên dụng thời gian cho phép vận hành tối đa đến 12.000 đến 15.000 giờ không cần thay. Tùy thuộc vào môi trường và hiệu suất làm việc thì có thể thay dầu khi cần thiết. Thời gian thay cho lần tiếp theo phụ thuộc vào loại dầu cho bánh răng công nghiệp mà bạn sử dụng.
Đối với Motor giảm tốc Chenta và hộp giảm tốc thì được quy định như sau:
1. Lần đầu: 500 giờ
2. Sau đó: 2500 giờ thay một lần tùy thuộc vào tùy loại dầu nhớt và thường xuyên kiểm tra dầu và thay đổi khi cần thiết
3. Loại dầu sử dụng: CPU-HD-320 hoặc tương đương
Biên soạn bởi Thanh Lam
Vui lòng nêu rõ nguồn MayDien.com/blog khi đăng tải lại nội dung

DongCo.com.vn Cam kết cung cấp hàng mới 100%, hàng chính hãng, đảm bảo chất lượng theo quy định của nhà sản xuất. Đến với ĐộngCơ.com.vn thì bạn hoàn toàn yên tâm về sản phẩm cũng như chất lượng của chúng tôi.
Mọi chi tiết vui lòng truy cập: www.dongco.com.vn
Lưa chọn thiết bị kiểm soát nguồn nào sẽ không còn là vấn đề trong sự quyết định của bạn: Thiết bị SENTRON PAC chất lượng cao nhỏ gọn phát hiện tất cả dữ liệu tải trong hệ thống phân phối nguồn cực kỳ chính xác và tin cậy. Thiết bị này phát hiện hầu hết những biến số đo lường khác nhau và hiện thị chúng trên màn hình đồ họa LCD. Để xử lý tiếp theo, thiết bị này có thể dễ dàng kết nối với hệ thống tự động cấp cao hơn và hệ thống quản lý nguồn.
Thiết bị giám sát năng lượng điện PAC3200

Nền tảng cho đo lường chính xác và tin cậy
Ở đâu? Khi nào? Và bao nhiêu năng lượng được sử dụng – Thông tin minh bạch được cung cấp bởi thiết bị giám sát năng lượng điện SENTRON PAC 3200. Thiết bị này có thể sử dụng tại bất cứ nơi nào năng lượng điện được phân phối . SENTRON PAC 3200 ghi nhận hơn 50 thông số điện như điện áp, dòng điện, công suất, giá trị năng lượng, tần số, hệ số công suất và sự mất cân đối. Thiết bị đo lắp đặt trên tủ bảng điều khiển tích hợp nhỏ gọn cung cấp dữ liệu cơ bản cho bạn một cái nhìn tổng quan nơi nào điện năng được tiêu thụ và nơi nào có dòng chảy năng lượng trong hệ thống.
Các ưu điểm:
Sử dụng dãy rộng
Dãy rộng các chức năng và dịch vụ, điều này có nghĩa là đo lường trong nguồn cung cấp 50 và 60Hz, sử dụng trong các nhà
Đòi hỏi ít khoảng không
Thiết kế tích hợp: 96x96x56 mm (WxHxD) , Độ sâu lắp đặt : 51 mm hoặc 73 mm với module mở rộng
Định vị chính xác chi phí
Độ chính xác cao cho đo lường năng lượng, cấp chính xác 0.5S tương ứng với IEC 62053-22 cho năng lượng tích cực.
Khả năng đọc tốt các giá trị hiện thị dưới điều kiện ánh sáng kém
Rộng, màn hình LC hiển thị đồ họa sáng
Vận hành đơn giản
Nhắc nhở người dùng một cách trực quan, hiển thị văn bản đa ngôn ngữ.
Lắp đặt nhanh
Nhanh, cài trên giá đở, lắp đặt cũng có thể thực hiện mà không cần dụng cụ.
Ghi nhận sự tiêu thụ một cách toàn diện
10 đồng hồ năng lượng cho công suất thực , công suât phản kháng và công suất khả kiến, biểu giá cao điểm và thấp điểm, xuất và nhập.
Chức năng truyền thông tùy chọn đa dạng:
Sự tích hợp vào trong mỗi hệ thống quản lý năng lượng hoặc hệ thống tự động thông qua Ethernet, PROFIBUS DP, hoặc Modbus RTU
Thiết bị giám sát năng lượng điện PAC 4200
Toàn diện và tổng quan thân thiện người dùng về tình trạng của nhà máy
SENTRON PAC 4200 có cùng chức năng cơ bản như SETRON PAC3200. Nó ghi nhận được tổng cộng khoảng 200 giá trị, bao gồm dữ liệu cơ bản để đánh giá chất lượng hệ thống. Hơn thế nữa nó có những chức năng tiện ích cộng thêm như màn hình định nghĩa bởi người dùng, bộ nhớ trong, hàm lịch và thời gian của ngày tích hợp và chức năng cổng thông tin.
Các ưu điểm:
Đòi hỏi ít khoảng không
Thiết kế tích hợp nhỏ gọn: 96x96x82 mm (WxHxD), độ sâu lắp đặt 77mm hoặc 99 mm với module mở rộng
Định vị chính xác chi phí
Độ chính xác cao cho đo lường năng lượng, cấp chính xác 0.2 tương ứng với IEC 61557-12.
Tích hợp các thiết bị cấp thấp hơn trong mạng Ethernet
Kết nối các thiết bị với giao tiếp serial RS485 vào mạng Ethernet thông qua chức năng cổng thông tin (gateway) tích hợp.
Các chức năng nhớ mở rộng
Ghi theo thời gian trong bộ nhớ tiểu sử tải và bộ nhớ sự kiện.
Giám sát tải nhà máy theo kết quả từ ô nhiểm mạng
Dữ liệu để đánh giá chất lượng hệ thống như hài bậc lẽ từ bậc 3 đến bậc 31 cho dòng điện và điện áp, THD trong hệ thống 3 dây và 4 dây.
Phân tích hư hỏng một cách đơn giản và tránh hư hỏng
Ghi nhận nhiều hơn 4000 hoạt động định nghĩa bởi người dùng, các điều khiển và những sự kiện hệ thống
ELEC
(Theo ELEC.VN)
Tác giả bài viết: elec.com.vn
Nguồn tin: www.elecvn.com

Bộ khởi động mềm SIRIUS 3RW là thay thế hiệu quả với giá thành thấp cho việc sử dụng bộ khởi động Trực tiếp hoặc Sao/ Tam giác để khởi động motor điện 3 pha. Chúng tránh được những hiệu ứng phụ không mong muốn như va đập cơ khí mạnh trong máy móc và hệ thống cơ khí hoặc điện áp suy giảm từ nguồn cấp. Khởi động mềm trong tủ điều khiển có thể ứng dụng trong hầu như trong bất kỳ ứng dụng đơn giản và thực tế nào với dãy sản phẩm bộ khởi động mềm hoàn hảo của Siemens.
SIRIUS 3RW30 cho những ứng dụng tiêu chuẩn
Trượt dây dẫn động trên quạt thổi nhiệt hoặc áp lực nước tăng đột ngột trong lắp đặt hệ thống rữa là chỉ 2 trong nhiều vấn đề có thể xảy ra khi motor phải tạo ra nhiều công suất cơ khi khởi động. Với sản phẩm SIRIUS 3RW30 từ 1.5kW đến 55kW (ở điện áp 400V) bạn có thể dễ dàng tránh được những vấn đề như thế. Và tốt nhất của dãy sản phẩm này là: Ta có thể chuyển đổi thẳng Từ trực tiếp sang khởi động mềm bởi vì SIRIUS 3RW30 là khởi động mềm duy nhất trên thế giới đưa ra những kích cở size giống nhau trong dòng của thiết bị.
SIRIUS 3RW40 cho những ứng dụng tiêu chuẩn
SIRIUS 3RW40 là ngôi sao trong dãy bộ khởi động mềm tiêu chuẩn. Với phương pháp điều khiển mới phát minh, nó không chỉ là bộ khởi động mềm điều khiển 2-pha trên thế giới cho dãy công suất sử dụng đến 250W (ở điện áp 400V) – tương ứng 300 hP (ở điện áp 460V) – bởi vì thiết kế tích hợp đặc biệt của nó, nó đảm bảo tiết kiệm không gian, sắp xếp thiết bị rõ ràng trong tủ điều khiển. Vì thế nó mang ý nghĩa nhiều hơn sự mở rộng ranh giới chức năng thêm vào dãy sản phẩm điều khiển 2-pha của bộ khởi dộng mềm 3RW30/31.
3RW44 cho những ứng dụng cấp cao
Một dãy rộng các chức năng cho giá thành cạnh tranh. Với những tính năng nổi bật, dãy sản phẩm 3RW44 hoàn toàn có đủ năng lực đảm nhận quá trình khởi động và giảm tốc khó khăn theo một cách đơn giản và hơn hết là nhẹ nhàng. Với hệ thống điều khiển moment tiên tiến của nó, bộ khởi động mềm này có thể sử dụng để điều khiển công suất ngõ ra đến 710kW ở điện áp 400V – tương ứng 959hP ở điện áp 460V – trong mạch đấu nối nối tiếp hoặc có thể sử dụng đến 1200kW ở điện áp 400V – tương ứng 1700hP ở điện áp 460V – trong mạch đấu Tam giác bên trong. Được thiết kế cho xử lý đơn giản, các chức năng cực kỳ dễ dàng sử dụng.
Nguồn dientudong.com
Ghi rõ nguồn maydien.com khi phát hành thông tin.
Độ nhớt đóng vai trò quan trọng trong tính chất của một loại dầu động cơ. Nếu đánh giá theo độ nhớt của SAE, dầu có chữ "W" là loại đa cấp, dùng trong tất cả các mùa. Khi phân loại theo tính năng API, các ký tự sau chữ "S" hay "C" có thứ tự càng lớn trong bảng chữ cái càng tốt. Thay dầu là một trong những thói quen cần có đối với hầu hết những người đi ôtô, xe máy. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều hiểu cặn kẽ về những tính năng, cũng như thông số ghi trên sản phẩm này. Điển hình như chữ “W” trong ký hiệu SEA 10W40 ghi trên các loại dầu nhớt thường được nghĩ là “Weight”, trong khi thực tế nó dùng để chỉ từ “Winter”. Tác dụng và tính chất của dầu nhờn Trong động cơ, dầu nhờn có nhiều tác dụng như giảm ma sát giữa hai bộ phận tiếp xúc trực tiếp với nhau, giải nhiệt làm mát, làm kín, chống ăn mòn. Tuy nhiên, tác dụng cơ bản nhất của nó vẫn là giảm ma sát nên độ nhớt là chỉ tiêu có ảnh hưởng quan trọng nhất đến chất lượng của một sản phẩm dầu nhờn thương mại. Độ nhớt của dầu thay đổi theo nhiệt độ. Khi ở nhiệt độ cao, độ nhớt giảm và ngược lại. Dầu có độ nhớt thấp dễ di chuyển hơn so với dầu có độ nhớt cao. Ngoài ra, do trọng lượng của các phân tử cấu thành nên dầu nhờn có liên quan trực tiếp đến độ nhớt của nó nên người ta thường gọi thành dầu nặng hay dầu nhẹ. Dầu nhẹ dùng để chỉ loại có độ nhớt thấp, dầu nặng chỉ dầu có độ nhớt cao. Trên thực tế, dầu nhẹ dễ bơm và luân chuyển qua động cơ nhanh hơn. Ngược lại, dầu nặng thường có độ nhớt cao, di chuyển chậm hơn nên có áp suất cao hơn nhưng lưu lượng dầu qua bơm lại thấp hơn. Phân loại dầu nhờn theo độ nhớt Ở phương pháp phân loại theo độ nhớt, các nhà sản xuất dầu nhớt thống nhất dùng cách phân loại của Hiệp hội kỹ sư ôtô Mỹ SAE (Society of Automotive Engineers). Các phân loại của SAE tùy thuộc vào sản phẩm dầu đó là đơn cấp hay đa cấp. Dầu đa cấp có độ nhớt thỏa mãn ở nhiều điều kiện nhiệt độ khác nhau còn dầu đơn cấp chỉ đáp ứng ở một nhiệt độ nào đó. Hệ thống phân loại của SAE khá phức tạp, nó liên quan tới nhiều khái niệm khác nhau. Tuy nhiên, có thể chỉ ra những yếu tố chính. Đối với dầu đa cấp, sau chữ SAE là tiền tố như 5W, 10W hay 15W, 20W. Những số đứng trước chữ "W" dùng để chỉ khoảng nhiệt độ mà loại dầu động cơ đó có độ nhớt đủ để khởi động xe lúc lạnh. Để xác định nhiệt độ khởi động theo ký tự này, bạn chỉ cần lấy 30 trừ đi các số đó nhưng theo nhiệt độ âm. Ví dụ, dầu 10W sẽ khởi động tốt ở âm 20 độ C, dầu 15W khởi động tốt ở âm 15 độ C. Các loại dầu động cơ ở các nước hàn đới thường là loại 5W, 10W, 15W nhưng đa số các sản phẩm ở Việt Nam chỉ là loại 15W hay 20W. Mặc dù không có ý nghĩa quan trọng khi khởi động vì thời tiết ở Việt Nam thường không quá lạnh, nhưng để đạt được các yêu cầu khởi động lạnh, các nhà sản xuất phải thêm vào các chất phụ gia nên dầu có số càng nhỏ thì càng đắt. Loại 15W và 20W có mức giá trung bình nên được các hãng dầu nhờn nhập về hoặc sản xuất ở Việt Nam. Đứng sau chữ "W" ở loại dầu đa cấp có thể là chữ 40, 50 hoặc 60. Đây là ký tự dùng để chỉ khoảng độ nhớt ở 100 độ C của các loại dầu nhờn. Thông thường, số càng to thì độ nhớt càng lớn và ngược lại. Ví dụ, với xe hoạt động không quá khắc nghiệt như động cơ ôtô chẳng hạn, chỉ số này ở khoảng 30, 40 hoặc 50 là đủ. Với những động cơ hoạt động ở vùng nhiệt độ cao, chỉ số này phải cao hơn, khoảng trên 60. Do sự thay đổi nhiệt độ nên tùy thuộc mùa mà người ta dùng loại 40 hoặc 50. Trong mùa đông, trời lạnh, nhiệt độ động cơ thấp nên chỉ cần dùng loại nhỏ như 30, 40. Ở mùa hè, nhiệt độ động cơ cao nên có thể dùng loại 50. Do đặc tính của dầu đa cấp nên người ta thường gọi nó là "dầu bốn mùa". Khi có chữ "W", khách hàng có thể hiểu nó dùng được cho cả mùa đông và mùa hè. Ngoài loại đa cấp, nhiều nhà sản xuất cho ra cả loại dầu đơn cấp và chỉ có ký hiệu như SAE 40, SEA 50. Loại dầu này thường được dùng cho các loại động cơ 2 kỳ, máy nông nghiệp, công nghiệp... Phân loại dầu theo tính năng Khi phân loại theo tiêu chuẩn này, các nhà sản xuất lại thống nhất phân theo tiêu chuẩn của Viện dầu mỏ Mỹ API (American Petroleum Institute). API phân ra theo cấp S (Service) dùng để dành cho dầu đổ vào động cơ xăng và C (Commercial) cho các động cơ diesel. Hiện tại, với động cơ xăng, API phân ra nhiều loại với thứ tự tiến dần từ SA, SB, SC tới mới nhất là SM. Đối với động cơ diesel, API chia thành CA, CD, CC tới CG, CH và CI. Càng về sau, chất lượng sản phẩm càng tốt do các nhà sản xuất phải thêm vào những chất phụ gia đặc biệt để thích nghi với những công nghệ động cơ mới. Trên các sản phẩm dầu động cơ thương mại, các nhà sản xuất thường ghi đầy đủ 2 cách phân loại này. Tùy thuộc vào đặc điểm động cơ mà những hãng xe hơi khuyến cáo người tiêu dùng sử dụng loại dầu nào. Bạn có thể tự đánh giá hay lựa chọn cho mình, nhưng tốt hơn cả hãy hỏi ý kiến của các chuyên gia hay nhờ kỹ thuật viên của hãng tư vấn. Nguyễn Nghĩa - Vietbao.vn

Ký hiệu chỉ loại dầu nhờn "10W-30" của Castrol được bán ở Mỹ. Ảnh: Castrol. 
Trong tất cả các sản phẩm dầu nhờn thương mại không thể thiếu một thành tố quan trọng là chất phụ gia. Tuy chỉ chiếm từ 0,01 đến 5% nhưng phụ gia đóng vai trò sống còn và là yếu tố quyết định đến chất lượng của một thương hiệu dầu nhờn.
Dầu nhờn thương mại là sản phẩm cuối cùng, pha trộn từ hai thành phần chính. Thành phần thứ nhất là dầu gốc, được các hãng sản xuất từ dầu mỏ thiên nhiên hoặc tổng hợp. Dầu gốc chứa các phân tử hydrocarbon nặng và có các tính chất hóa lý tương tự như dầu thành phẩm. Tuy nhiên, người ta không thể sử dụng ngay loại dầu này bởi tính chất hóa lý của nó chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ động cơ. Để cải thiện các tính chất đó, các hãng phải pha trộn thêm thành phần thứ hai là các chất phụ gia.
![]() |
| Sản phẩm phụ gia dầu nhờn động cơ. (Liqui-Moly) |
Phụ gia là các chất hữu cơ, vô cơ hoặc nguyên tố có tác dụng cải thiện một hay nhiều tính chất nhất định của dầu gốc. Yêu cầu của phụ gia là hòa tan và tương hợp với dầu gốc. Nồng độ của các phụ gia nằm trong khoảng 0,01 - 5%, trong những trường hợp đặc biệt có thể lên tới 10%. Các loại phụ gia được phân chia theo chức năng như: Phụ gia chống oxy hóa, chống ăn mòn, chống gỉ, chống tạo cặn, tăng chỉ số độ nhớt, chống tạo bọt, tạo nhũ, phụ gia diệt khuẩn, phụ gia tẩy rửa…
Trong các loại phụ gia trên, phụ gia tăng chỉ số độ nhớt, chống oxy hóa, chống ăn mòn đóng vai trò quan trọng nhất cho dầu nhờn động cơ 4 thì. Phụ gia tăng chỉ số độ nhớt giúp dầu nhờn có độ nhớt ít phụ thuộc vào nhiệt độ, do đó, bảo vệ động cơ ở nhiều điều kiện khác nhau cũng như dễ khởi động hơn. Phụ gia chống oxy hóa giúp dầu không bị phân hủy và không bị oxy hóa dưới điều kiện khắc nghiệt như nhiệt độ cao, áp suất lớn của động cơ. Nếu dầu bị oxy hóa, nó sẽ tạo ra nhiều cặn và sinh ra các thành phần ăn mòn động cơ. Phụ gia chống ăn mòn có tác dụng trung hòa các axít sinh ra trong quá trình động cơ hoạt động và bảo vệ các bề mặt kim loại.
![]() |
| Phụ gia chống mài mòn cho dầu nhờn. (Liqui-Moly) |
Chất phụ gia đóng vai trò quan trọng nhưng cũng chính vì vậy, nó trở nên “đỏng đảnh” với người sử dụng. Điều kiện cần và đủ để có sản phẩm ổn định là các phụ gia không “xung đột” với dầu gốc và không “xung đột” với nhau. Các hãng sản xuất dầu nhờn phải thường xuyên nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ và loại phụ gia pha trộn để có sản phẩm hoàn hảo nhất.
Vì lý do đó, việc thêm phụ gia tùy tiện vào các sản phẩm thành phẩm thường không được nhà cung cấp đồng ý nếu không có những thử nghiệm và tổ chức chuyên ngành đánh giá. Nếu thêm một chất phụ và có tính “kháng” dầu gốc hay “xung đột” với các phụ gia khác, nó sẽ mất khả năng và làm hại tới tính chất chung. Ngay cả lượng phụ gia đưa vào cũng là một thông số cần tính toán kỹ lưỡng bởi nó có thể gây tình trạng quá bão hòa, gây lắng phụ gia ngay trong dầu và sinh ra các chất gây hại.
Tuy nhiên, do tính phức tạp của quy trình tổng hợp mà ngoài các hãng dầu nhờn sản xuất phụ gia còn có các hãng chuyên nghiên cứu và sản xuất phụ gia như Liqui-Moly của Đức, Elco hay Chevron… Những sản phẩm của các nhà cung cấp này đã được các hãng xe, hãng dầu nhờn và các tổ chức tiêu chuẩn thử nghiệm và cho phép sử dụng tại hầu hết các thị trường trên thế giới. Phụ gia của các hãng thường được đóng gói, nghĩa là trộn sẵn các loại khác nhau để đảm bảo không gây rối khi thêm vào dầu. Tuy nhiên, khi sử dụng, người tiêu dùng vẫn cần mua sản phẩm chính hãng và thực hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất một cách nghiêm ngặt.
Trọng Nghiệp-Vnexpress.net

Trong động cơ diễn ra hàng nghìn cơ cấu chuyển động trên phút khi vận hành, tất cả đều phụ thuộc một phần vào lượng dầu nhớt bôi trơn linh kiện đồng bộ. Cách kiểm tra sau đây giúp bạn xác định đúng thời điểm cần thiết thay dầu, nâng cao độ bền động cơ.
![]() |
| Đổ nhớt cho xe. Ảnh: about.com |
Công thức sử dụng nhớt quy định thời gian tốt nhất nên thay dầu nhớt cho xe là sau chu kỳ 3 tháng hoặc chạy được hơn 4.800km. Trong khi những hãng xe hơi có tiếng như Ford và Toyota hiện nay chỉ định gấp đôi thông số này nếu bạn sử dụng các mẫu xe đời mới.
Nhờ công nghệ ôtô được cải tiến với hệ thống đo vi tính tích hợp có thể tự động báo khi cần thay dầu cho máy móc. Hệ thống máy đo gắn trong này khá tinh xảo, có chức năng tính toán hiệu suất động cơ và lên lịch đưa ra thông báo.
Sử dụng đúng tiêu chuẩn dầu nhớt cho động cơ xe bạn đang sử dụng cũng là yếu tố rất quan trọng. Vì mỗi độ nhớt khác nhau chỉ phù hợp với một số hệ động cơ nhất định. Lấy một ví dụ, dầu có độ nhớt thấp sử dụng tốt cho các phiên bản động cơ dành cho vùng hàn đới, còn dầu có tỷ lệ nặng 60 có khả năng chịu nhiệt tốt cho các động cơ 806 mã lực. Vì vậy, bạn cần tìm hiểu động cơ xe phù hợp với loại dầu nào trong phạm vi từ 5W30 đến 10W30 về độ nhớt. Tránh tâm lý sử dụng loại dầu phổ biến trên thị mà không biết rõ có thích hợp với động cơ đang dùng hay không.
Cùng với việc tìm hiểu kỹ về chỉ định loại dầu cho động cơ, bạn còn cần chuẩn bị bộ đồ nghề chuyên dụng như phễu rót và găng tay cao su để thực hiện thay dầu. Và làm theo chương trình 11 bước sau đây:
- Bật cho động cơ khởi động làm nóng dầu. Chờ từ 5 đến 10 phút cho dầu đủ độ linh hoạt trong động cơ, như vậy dẫn chảy ra nhanh hơn.
- Để xe đỗ trên mặt đường bê tông bằng phẳng, không dốc nghiêng. Thận trọng mở mui xe và tháo cáp ắc qua, tránh để hai đầu điện cực trái dấu chạm vào nhau. Dùng ống dẫn gắn vào bình chứa dầu của động cở ở mũi xe.
- Tìm vị trí chốt phun dầu, thường nằm tại mặt dưới của bình chứa của động cơ. Tháo nắp nhựa dẫn vào chốt thoát thải.
- Vặn mạnh ốc vít theo hướng ngược chiều kim đồng hồ để mở nút. Gắn ống dẫn vào, cần hết sức cẩn thận vì lúc này dầu rất nóng. Chờ khoảng 2 phút sau dầu sẽ chảy sạch theo đường ống dẫn ra ngoài.
- Trước khi lắp lại, bạn cần để ý xem có bất kỳ vật thể gây hại nào vô tình dính lên ren ốc vít hay không, vì điều đó sẽ gây hiện tượng rò rỉ nhớt sau này. Khi vặn vào cũng chú ý chỉ tới tầm vạch đỏ chỉ định trên vít để tránh hiện tượng cháy răng cơ khí.
- Bộ lọc dầu hình trụ đặt bên dưới động cơ cũng cần thay mới cùng mỗi lần thay nhớt. Bạn cầm và kéo mạnh ra nhưng cần tránh va đụng với các chi tiết khác của động cơ.
- Mở dấu niêm phong bộ lọc mới, bôi lên một lớp dầu nhớt cho đảm bảo không bị các vật thể kim loại bám dính. Sau đó đưa bộ lọc vào vị trí và dùng tay xoay đi nửa vòng hoặc 3/4 để cố định, tùy theo chỉ định của nhà sản xuất đưa ra.
- Gỡ nút bộ lọc để đặt phễu trước khi đổ dầu mới cho động cơ. Tùy vào dung tích động cơ bạn cần tìm hiểu để rót vào từ 5 đến 7 lít nhớt cho đủ lượng dầu cần thiết. Sau đó gắn nút lại đúng vị trí và chặt chẽ cho bộ lọc.
- Trước khi đóng các bộ phận xe lại cần để ý dầu không bị rò rỉ. Chờ ít phút cho dầu chảy xuống hết các vị trí do dầu đưa vào có nhiệt độ thấp, chưa linh hoạt.
- Kiểm tra mức dầu bằng dụng cụ đo của động cơ. Tốt nhất nên đánh dấu trước trên thước đo để so sánh mục dầu mới và cũ sẽ cho kết quả lý tưởng.
- Khởi động động cơ và chú ý các thông báo về hệ thống dầu xem có phát sinh bất kỳ dấu hiệu khác thường nào không. Ở một số mẫu xe mới có trang bị bộ phận theo dõi dầu sẽ yêu cầu thiết lập lại hệ thống sau khi đổ dầu mới. Để hoàn thành bạn phải đưa vào các thông số thích hợp trong quá trình hệ thống này khởi động lại.
Xe360.vn (nguồn vtc)
* Dầu Mỡ nhờn là sản phẩm có thành phần chính: dầu gốc và các phụ gia.
* Công dụng chính của Dầu Mỡ nhờn : bôi trơn, tẩy rửa, làm kín, làm mát, bảo quản, truyền nhiệt, cách điện,…
* Ngành công nghiệp dầu nhờn bao gồm 3 nhóm sản phẩm chính:
o Dầu nhờn động cơ – dầu nhờn dùng cho xe gắn máy, xe vận tải công cộng, xe thương mại, các loại động cơ trên một số thiết bị, máy móc.
o Dầu nhờn công nghiệp – dầu nhờn dùng trong công nghiệp, theo mục đích sử dụng gồm có: Dầu nhờn truyền động, Dầu nhờn công nghiệp, Dầu thủy lực, Dầu biến thế, Mỡ bôi trơn và các loại DMN chuyên dụng khác,...
o Dầu nhờn hàng hải: Dùng cho động cơ, máy móc thiết bị trên các tàu, thuyền.
Các sản phẩm dầu mỡ nhờn của PLC:
Được sản xuất trên các dây chuyền thiết bị, công nghệ hiện đại, có chất lượng cao, hoàn toàn tương đương và thay thế tương đương cho các sản phẩm DMN cùng loại của các hãng lớn trên thế giới. Các sản phẩm Dầu Mỡ nhờn của PLC được sử dụng cho hầu hết các máy móc, thiết bị của nền kinh tế quốc dân.
Công
ty có hơn 400 sản phẩm dầu mỡ nhờn có tên gọi, công dụng sử dụng khác nhau có thể được chia thành 6 nhóm cụ thể sau:
* Dầu nhờn cho xe gắn máy: PLC Racer Scooter, PLC Racer SJ, PLC Racer SG, PLC Racer SF, PLC Racer SD, PLC Racer 2T, PLC Racer 2T Extra,...
* Dầu nhờn cho xe vận tải công cộng: PLC Motor Oil Extra 40 & 50, PLC Komat SHD 40 & 50, PLC Komat CF, PLC Cater CH4, PLC Cater CI4,...
* Dầu nhờn cho xe thương mại: PLC Racer Plus, PLC Racer HP,...
* Dầu nhờn hàng hải: Atlanta Marine D, Disola, Aurelia XL, Talusia HR70,...
* Dầu nhờn cho các ngành công nghiệp khác: PLC Rolling Oil 32, 46, 68,... PLC AW Hydroil 32, 46, 68,... PLC Supertrans, PLC Gear Oil MP 90 EP & 140 EP, PLC Angla 150, 220,... PLC Brake Fluid Dot 3, PLC Super Coolant 100, PLC Cutting Oil,...
* Mỡ bôi trơn: PLC Grease L2, L3, L4; PLC Grease C2, PLC Grease L-EP 0, 1, 2, 3; PLC Grease BHT 252,...
Nguồn: plc.com.vn
Dầu nhờn là loại dầu dùng để bôi trơn cho các động cơ. Dầu nhờn là hỗn hợp bao gồm dầu gốc và phụ gia,[1] hay người ta thường gọi là dầu nhờn thương phẩm. Phụ gia thêm vào với mục đích là giúp cho dầu nhờn thương phẩm có được những tính chất phù hợp với chỉ tiêu đề ra mà dầu gốc không có được.
Lịch sử hình thành và phát triển của dầu nhờn
Cách đây 100 năm, thậm chí con người vẫn chưa có khái niệm về dầu nhờn. Tất cả các loại máy móc lúc bấy giờ đều được bôi trơn bằng dầu mỡ lợn và sau đó dùng dầu ôliu. Khi dầu ôliu khan hiếm thì người ta chuyển sang sử dụng các loại dầu thảo mộc khác. Ví dụ, để bôi trơn cọc sợi máy dệt người ta sử dụng đến dầu cọ.
Khi ngành chế biến dầu mỏ ra đời, sản phẩm chủ yếu tại các nhà máy chế biến dầu mỏ là dầu hỏa, phần còn lại là mazut ( chiếm 70 – 90 %) không được sử dụng và coi như bỏ đi. Nhưng khi ngành công nghiệp dầu mỏ phát triển thì lượng cặn mazut càng ngày càng lớn, buộc con người phải nghiên cứu để sử dụng nó vào mục đích có lợi. Lúc đầu người ta lấy cặn dầu mỏ pha thêm vào dầu thực vật hoặc mỡ lợn với tỉ lệ thấp để tạo ra dầu bôi trơn, nhưng chỉ ít lâu sau người ta đã biết dùng cặn dầu mỏ để chế tạo ra dầu nhờn.
Năm 1870 ở Creem (Nga), tại nhà máy Xakhanxkiđơ bắt đầu chế tạo được dầu nhờn từ dầu mỏ, nhưng chất lượng thấp. Nhà bác học người Nga nổi tiếng D.I.Mendeleev chính là một trong những người chú ý đầu tiên đến vấn đề dùng mazut để chế tạo ra dầu nhờn. Năm 1870 – 1871, Ragorzin đã xây dựng một xưởng thí nghiệm dầu nhờn nhỏ, và đến năm 1876 – 1877, Ragorzin xây dựng ở Balakhan nhà máy chế biến dầu nhờn đầu tiên trên thế giới có công suất 100.000 put/năm. Nhà máy này đã sản xuất được bốn loại dầu nhờn: dầu cọc sợi, dầu máy, dầu trục cho toa xe mùa hè và mùa đông. Các mẫu dầu nhờn của Ragorzin đã được mang đến triển lãm quốc tế Pari năm 1878 và đã gây được nhiều hấp dẫn đối với chuyên gia các nước. Phát huy kết quả đó, năm 1879, Ragorzin cho xây dựng ở Conxtantinôp nhà máy thứ hai chuyên sản xuất dầu nhờn để xuất khẩu. Chính Mendeleep cũng đã làm việc ở các phòng thí nghiệm và những phân xưởng của nhà máy này vào những năm 1880 – 1881. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông, nhiều cơ sở khoa học của ngành sản xuất dầu nhờn đã được xây dựng và chỉ trong vòng mấy năm sau đó, ngành chế tạo dầu nhờn đã thực sự phát triển và đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử chế tạo chất bôi trơn.
Các tác phẩm nghiên cứu của nhà bác học Nga nổi tiếng N.P.Petrop đã tạo điều kiện để dầu nhờn được sử dụng rộng rãi hơn. Trong các tác phẩm của mình, ông đã nêu lên khả năng có thể dùng hoàn toàn dầu nhờn thay thế cho dầu thực vật và mỡ động vật, đồng thời nêu lên những nguyên lý bôi trơn… Cùng với những tiến bộ khoa học không ngừng, con người đã xây dựng được những tháp chưng cất chân không hiện đại thay thế cho những nhà máy chưng cất cũ kỹ, đây là bước phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dầu mỏ.
Chúng ta đang sống trong thời đại khoa học và công nghệ, nền công nghiệp hiện đại đã và đang xâm nhập vào mọi hang cùng, ngõ hẻm trên thế giới và xu hướng quốc tế hóa nên đời sống kinh tế cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Tất cả những đặc điểm nêu trên của thời đại đã đặt ra một nhiệm vụ hết sức to lớn cho các quốc gia là phải xây dựng được một nền công nghiệp dầu mỏ hiện đại, đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế thế giới.
Các tập đoàn tư bản lớn liên quan đến dầu nhờn như:BP, Castrol, Esson, Mobil, Total, Esso… đã có mặt trên hầu hết các nước trên thế giới. Họ cũng đã và đang áp dụng rộng rãi những thành tựu mới nhất của khoa học, đưa nền công nghiệp dầu mỏ hằng năm tăng trưởng không ngừng và sản xuất dầu nhờn cũng không ngừng được nâng cao về mặt chất lượng cũng như số lượng, sáng tạo thêm nhiều chủng loại dầu nhờn mới.
Thành phần dầu nhờn
Dầu nhờn để bôi trơn cho các động cơ hoạt động vận hành trong thực tế đó là hỗn hợp bao gồm dầu gốc và phụ gia, hay người ta thường gọi là dầu nhờn thương phẩm. Phụ gia thêm vào với mục đích là giúp cho dầu nhờn thương phẩm có được những tính chất phù hợp với chỉ tiêu đề ra mà dầu gốc không có được.
Dầu gốc
Dầu gốc là dầu thu được sau quá trình chế biến, xử lý tổng hợp bằng các quá trình xử lý vật lý và hóa học. Dầu gốc thông thường gồm có ba loại là: dầu thực vật, dầu khoáng và dầu tổng hợp.
Dầu thực vật chỉ dùng trong một số trường hợp đặc biệt. Nó chủ yếu là phối trộn với dầu khoáng hoặc dầu tổng hợp để đạt được một số chức năng nhất định. Nhưng ngày nay người ta thường sử dụng dầu khoáng hay dầu tổng hợp là chủ yếu. Với tính chất ưu việt như giá thành rẻ, sản phẩm đa dạng và phong phú, dầu khoáng đã chiếm một vị trí quan trọng trong lĩnh vực sản xuất dầu nhờn, nhưng dầu tổng hợp cũng được quan tâm nhiều bởi tính chất ưu việt của nó.
Dầu gốc khoáng
Trước đây, thông thường người ta dùng phân đoạn cặn mazut là nguyên liệu chính để sản xuất dầu nhờn gốc. Nhưng về sau này khi ngành công nghiệp nặng và chế tạo máy móc phát triển, đòi hỏi lượng dầu nhờn ngày càng cao và chủng loại ngày càng phong phú cũng như tiêu chuẩn về chất lượng ngày càng cao, nên người ta đã nghiên cứu tận dụng phần cặn của quá trình chưng cất chân không có tên gọi là cặn gudron làm nguyên liệu để sản xuất dầu nhờn gốc có độ nhớt cao. Tóm lại nguyên liệu chính để sản xuất dầu nhờn gốc là cặn mazut và gudron.
Cặn mazut
Mazut là phần cặn của quá trình chưng cất khí quyển có nhiệt độ sôi cao hơn 350°C. Phần cặn này có thể đem đi đốt hoặc làm nguyên liệu để sản xuất dầu nhờn gốc. Để sản xuất dầu nhờn gốc người ta đem mazut chưng cất chân không thu được phân đoạn có nhiệt độ sôi khác nhau:
- Phân đoạn dầu nhờn nhẹ ( LVGO: Light Vacuum Gas Oil ) có nhiệt độ sôi từ 300°C - 350°C.
- Phân đoạn dầu nhờn trung bình ( MVGO: Medium Vacuum Gas Oil ) có nhiệt độ từ 350°C - 420°C.
- hân đoạn dầu nhờn nặng ( HVGO: Heavy Vacuum Gas Oil ) có nhiệt độ từ 420°C - 500°C.
Thành phần của các phân đoạn này gồm những phân tử hydrocacbon có số cacbon từ C21-40, những hydrocacbon trong phân đoạn này có trọng lượng phân tử lớn ( 1000 – 10000), cấu trúc phức tạp, bao gồm:
- Các parafin mạch thẳng và mạch nhánh.
- Các hydrocacbon napten đơn hay đa vòng thường có gắn nhánh phụ là các parafin.
- Các hydrocacbon thơm đơn hay đa vòng chủ yếu chứa mạch nhánh ankyl, nhưng chủ yếu là 1 đến 3 vòng.
- Các hợp chất lai hợp mà chủ yếu là lai hợp giữa napten và paraffin, giữa napten và hydrocacbon thơm.
- Các hợp chất phi hydrocacbon như các hợp chất chứa các nguyên tố oxy, nitơ, lưu huỳnh cũng chiếm phần lớn trong phân đoạn dầu nhờn. Các hợp chất chứa kim loại cũng gặp trong phân đoạn này.
Cặn gudron
Cặn gudron là phần cặn còn lại của quá trình chưng cất chân không, có nhiệt độ sôi trên 500°C. Trong phần này tập trung các cấu tử có số nguyên tử cacbon từ C41 trở lên, thậm chí có cả C80, có trọng lượng phân tử lớn, có cấu trúc phức tạp. Do đó người ta không chia thành phần của phân đoạn này theo từng hợp chất riêng biệt mà người ta phân làm ba nhóm như sau:
Nhóm chất dầu
Nhóm chất dầu bao gồm các hydrocacbon có phân tử lượng lớn, tập trung nhiều các hợp chất thơm có độ ngưng tụ cao, cấu trúc hỗn hợp nhiều vòng giữa hydrocacbon thơm và napten, đây là nhóm chất nhẹ nhất có tỷ trọng xấp xỉ bằng 1. Nhóm chất này hòa tan được các dung môi nhẹ như paraffin và xăng, nhưng người ta không thể tách nó bằng các chất như silicagen hay là than hoạt tính vì đây là những hợp chất không có cực. Trong phân đoạn cặn gudron, nhóm dầu chiếm khoảng 45 – 46%.
Nhóm chất nhựa
Nhóm nhựa hòa tan được trong các dung môi như nhóm dầu nhưng nó là hợp chất có cực nên có thể tách ra bằng các chất như than hoạt tính hay silicagen. Nhóm chất nhựa gồm hai thành phần là các chất trung tính và axit. Các chất trung tính có màu nâu hoặc đen, nhiệt độ hóa mềm nhỏ hơn 100°C, tỷ trọng lớn hơn 1, dễ dàng hòa tan trong xăng, naphta. Chất trung tính tạo cho nhựa có tính dẻo dai và tính kết dính. Hàm lượng của nó ảnh hưởng trực tiếp đến độ kéo dài của nhựa, chiếm khoảng 10 – 15% khối lượng cặn gudron. Các chất axit là chất có nhóm-COOH, màu nâu sẫm, tỷ trọng lớn hơn 1, dễ dàng hòa tan trong clorofom và rượu etylic, chất axit tạo cho nhựa có tính hoạt động bề mặt, chiếm 1% trong cặn dầu mỏ.
Nhóm asphanten
Nhóm asphanten là nhóm chất rắn màu đen, cấu tạo tinh thể, tỷ trọng lớn hơn 1, chứa hầu hết hợp chất dị vòng có khả năng hòa tan mạnh trong cacbon disunfua (CS2), nhưng không hòa tan trong các dung môi nhẹ như parafin hay xăng, ở 300°C không bị nóng chảy mà bị cháy thành tro.
Trong quá trình thì nhóm dầu, nhựa, asphanten tồn tại ở trạng thái hệ keo, trong đó nhóm nhựa tan trong dầu tạo thành một dung dịch thật sự, người ta gọi là môi trường phân tán. Asphanten không tan trong nhóm dầu nên tồn tại ở trạng thái pha phân tán. Ngoài ba nhóm chất trên, trong cặn godron còn tồn tại các hợp chất cơ kim của kim loại nặng, các hợp chất cacbon, cacboit, các hợp chất này không tan trong các dung môi thông thường, chỉ tan trong pyridine.
Dầu nhờn tổng hợp
Dầu nhờn sản xuất từ dầu mỏ vẫn chiếm ưu thế do nó có những ưu điểm như: công nghệ sản xuất dầu đơn giản, giá thành rẻ. Nhưng ngày nay, để đáp ứng yêu cầu cao của dầu nhờn bôi trơn, người ta bắt đầu quan tâm đến dầu tổng hợp nhiều hơn. Dầu tổng hợp là dầu được tạo ra bằng các phản ứng hóa học từ những hợp chất ban đầu, do đó nó có những tính chất được định ra trước. Nó có thể có những tính chất tốt nhất của dầu khoáng, bên cạnh nó còn có các tính chất khác đặc trưng như là: không cháy, không hòa tan lẫn trong nước.
Ưu điểm của dầu tổng hợp là có khoảng nhiệt độ hoạt động rộng từ -55°C đến 320°C, có độ bền nhiệt lớn, có nhiệt độ đông đặc thấp, chỉ số độ nhớt cao… Chính những ưu điểm này mà dầu tổng hợp ngày càng được sử dụng nhiều, nhất là trong các động cơ phản lực. Có hai phương pháp chính để phân loại dầu nhờn tổng hợp:
- Phương pháp 1: dựa vào một số tính chất đặc thù để phân loại như: độ nhớt, khối lượng riêng.
- Phương pháp 2: dựa vào bản chất của chúng.
Theo phương pháp 2 người ta chia dầu tổng hợp thành những loại chính sau: hydrocacbon tổng hợp, este hữu cơ, poly glycol, và este photphat. Bốn hợp chất chính này chiếm trên 40% lượng dầu tổng hợp tiêu thụ trên thực tế.
Phụ gia cho dầu nhờn
Dầu nhờn thương phẩm để sử dụng cho mục đích bôi trơn là hỗn hợp của dầu gốc và phụ gia. Do đó, chất lượng của dầu bôi trơn ngoài sự phụ thuộc rất nhiều vào dầu gốc, nó còn phụ thuộc vào phụ gia.
Phụ gia là những hợp chất hữu cơ, vô cơ, thậm chí là những nguyên tố hóa học được thêm vào chất bôi trơn, nhằm nâng cao hay mang lại những tính chất mong muốn. Thông thường, hàm lượng phụ gia đưa vào là 0,01 – 5%, trong một số trường hợp phụ gia được dùng từ vài phần triệu cho đến vài phần trăm. Do là những hợp chất hoạt động, vì vậy khi tồn tại trong dầu phụ gia có thể tác dụng với nhau và làm mất chức năng của dầu nhờn. Ngược lại, chúng cũng có thể tác động tương hỗ với nhau tạo ra một tính chất mới có lợi cho dầu nhờn, do đó việc phối trộn các phụ gia cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để loại trừ những hiệu ứng đối kháng và nâng cao tính tác động tương hỗ. Sự tác động tương hỗ giữa phụ gia và dầu gốc cũng là một yếu tố cần được quan tâm khi sản xuất dầu nhờn.
Ngày nay, để đạt được các tính năng bôi trơn thì dầu có chứa nhiều phụ gia khác nhau. Chúng có thể được pha riêng lẻ vào dầu nhờn hoặc phối trộn lại với nhau để tạo thành một phụ gia đóng gói rồi mới đưa vào dầu nhờn.
Yêu cầu chung của một loại phụ gia:
- Dễ hòa tan trong dầu.
- Không hoặc ít hòa tan trong nước.
- Không ảnh hưởng đến tốc độ nhũ hóa của dầu.
- Không bị phân hủy bởi nước và kim loại.
- Không bị bốc hơi ở điều kiện làm việc của hệ thống dầu nhờn.
- Không làm tăng tính hút ẩm của dầu nhờn.
- Hoạt tính có thể kiểm tra được.
- Không độc, rẻ tiền, dễ kiếm.
Phụ gia được pha trộn vào dầu gốc
Phụ gia tăng chỉ số nhớt
Phụ gia được sử dụng để làm tăng chỉ số số nhớt là các polymer tan được trong dầu có tác dụng tăng độ nhớt của dầu mỏ, nghĩa là làm cho tốc độ thay đổi độ nhớt của dầu theo nhiệt độ giảm đi ( tăng chỉ số độ nhớt) cũng như để tạo ra các loại dầu mùa đông. Các phụ gia này được chia làm hai nhóm: dạng hydrocacbon và dạng este.
- Dạng hydrocacbon có các loại: copolymer etylen-Propylen, Polyizobutylen, copolymer styren- butadien do hydro hóa, copolymer styren-izopren.
- Dạng ester gồm: polymetacrylat, polyacrylat và các copoly của ester styrenmaleic.
Các chất cải thiện chỉ số độ nhớt được sủ dụng rộng rãi nhất hiện nay là các polymer của etylen-propylen (có thể lên đến 10%) và polyizobutylen ( hàm lượng nhỏ 0,2 – 0,5%).
Phụ gia chống oxy hóa
Phụ gia này nhằm mục đích làm chậm quá trình ôxy hóa của dầu (tăng độ bền ôxy hóa), khắc phục hiện tượng cháy vòng găng, giảm bớt hiện tượng ăn mòn chi tiết và tạo cặn. Có hai nhóm phụ gia chống ôxy hóa:
- Phụ gia kìm hãm quá trình ôxy hóa dầu ở một lớp dày ngay trong khối dầu: nhóm này quan trọng nhất là chất ức chế ôxy hóa, đó là các hợp chất có chứa nhóm phenol hay nhóm amin, cũng có thể chứa 2 nhóm đồng thời như các phenol có chứa nitơ hoặc lưu huỳnh, các kẽm di-ankyl di-thiophotphat (ZnDDP), các hợp chất của phốt pho, lưu huỳnh…. Các chất ức chế này có nồng độ thấp, khoảng 0,005 đến 0,5 %.
- Phụ gia kìm hãm quá trình ôxy hóa dầu ở lớp mỏng trên bề mặt kim loại, đó là các chất thơm nhiệt, được pha với tỷ lệ 0,5 – 3%, chúng sẽ làm chậm quá trình ôxy hóa dầu ở lớp mỏng trên chi tiết động cơ ở nhiệt C), ngoài ra còn có tác dụng bảo vệ, chống rỉ°độ tương đối cao (200-300 cho ổ đỡ. Các chất thơm nhiệt được dùng là các hợp chất hữu cơ có chứa phốt pho, lưu huỳnh, kẽm ( tri-butylaphotphit, di-tiophotphat kẽm…).
Các loại chất thơm nhiệt dường như là chất thơm quan trọng nhất vì khi động cơ ngừng hoạt động là lúc dầu ngừng tuần hoàn và khi đó chất thơm tẩy rửa cũng ngừng hoạt động còn chất thơm nhiệt thì ngược lại, sẽ hoạt động mạnh hơn, nó không cho lớp dầu mỏng trên các chi tiết chưa nguội có khả năng biến thành sạn.
Phụ gia tẩy rửa
Với nồng độ 2 – 10 %, các chất tẩy rửa có thể ngăn cản, loại trừ các cặn không tan trong dầu, cặn sạn, cacbon và các hợp chất chì trên các bộ phận của động cơ đốt trong. Chúng tác dụng bằng cách hấp thụ lên các hạt không tan, giữ chúng lại trong dầu nhằm giảm tối thiểu cặn lắng và giữ sạch các chi tiết của động cơ. Tác nhân quan trọng nhất có tính tẩy rửa là các phụ gia có chứa kim loại, chúng bao gồm: sunphonat, phenolat, salixylat. Phần lớn sunphonat, phenolat và salixilat của canximagiê được sử dụng như các chất tẩy rửa chứa kim loại. hoặc
Phụ gia phân tán
Dùng để ngăn ngừa, làm chậm quá trình tạo cặn và lắng đọng trong điều kiện hoạt động ở nhiệt độ thấp. Các phụ gia phân tán quan trọng nhất bao gồm:
- Ankenyl-poly-amin-suxinimit.
- Ankyl-hydrobenzyl-polyamin.
- Este-polyhydroxy-suxinic.
- Poly-aminamit-imidazolin.
- Polyamine suxinimit.
- Ester-photpholat.
Như vậy các chất phân tán được sử dụng đều có chứa các nhóm chức như amin, imít, amít hoặc các nhóm hydroxyl-ester nên các polymer như poly metacrylat cũng cho khả năng phân tán. Mặt khác, do chúng có tính nhớt (chất tăng chỉ số độ nhớt) nên chúng được sử dụng như các phụ gia phân tán nhiều tác dụng. Lượng chất phân tán được sử dụng nói chung phụ thuộc vào lượng chất rắn cần phải phân tán trong dầu và thường là chiếm từ 0,1 đến 2%. Các dầu bôi trơn cacte chất lượng hàng đầu hiện nay có chứa tới 8% các phụ gia phân tán không tro. Hiệu quả của các chất phân tán là kết quả của sự tác động qua lại đặc biệt giữa tác nhân được chặn và chất phân tán.
Phụ gia ức chế ăn mòn
Là phụ gia có chức năng làm giảm thiểu việc tạo thành các peoxit hữu cơ, axit và các thành phần ôxy hóa khác làm xuống cấp dầu động cơ, bảo vệ ổ đỡ và các bề mặt khác nhau khỏi ăn mòn. Có thể nói chất ức chế ăn mòn bổ sung trong thực tế có tác dụng như các chất chống ôxy hóa. Các phụ gia này bao gồm: di-thiophotphat kim loại (đặc biệt là kẽm); sunphonat kim loại và kim loại kiềm cao; và các tác nhân hoạt động bề mặt như các axit béo, amin, axit ankylsuxinic, clo hóa parafin…
Phụ gia ức chế gỉ
Nếu như động cơ làm việc không có thời gian ngừng lâu thì dầu nhờn làm chức năng chống gỉ tương đối tốt vì khi động cơ ngừng trong thời gian ngắn thì dầu chưa kịp chảy hết khỏi các chi tiết. Nhưng nếu động cơ ngừng lâu hoặc bảo quản lâu ngày thì xylanh, cổ trục khuỷu và các chi tiết đánh bóng hoặc mài sẽ bị gỉ. Gỉ là sự hình thành sắt hydroxit Fe(OH)2, là một dạng đặc biệt quan trọng của ăn mòn trên mặt. Có nhiều hợp chất được dùng để ức chế rỉ như: các axit béo, các este của axit napteic và axit béo, các amin hữu cơ, các xà phòng kim loại của axit béo… thường pha vào dầu với tỷ lệ 0,1 – 1%.
Phụ gia chống mài mòn
Mài mòn là sự tổn thất kim loại giữa các bề mặt chuyển động tương đối với nhau. Yếu tố chính gây mài mòn là do sự tiếp xúc giữa kim loại và kim loại (mài mòn dính). Sự có mặt của các hạt mài (mài mòn hạt) gây ra mài mòn là do ăn mòn hay mài mòn hóa học. Để chống lại sự mài mòn, cần thiết phải cho vào các phụ gia chống mài mòn gồm các nhóm hóa chất có chứa hợp chất phôtpho, hợp chất lưu huỳnh, các dẫn xuất béo có khả năng bám dính trên bề mặt kim loại nhằm giảm bớt sự cọ xát, tỏa nhiệt trong quá trình làm việc. Phụ gia chống mài mòn thường có hàm lượng nhỏ khoảng 0,01%.
Phụ gia biến tính, giảm ma sát
Phụ gia biến tính, giảm ma sát (FM) có chức năng làm tăng độ bền của màng dầu, giữ bề mặt kim loại tách rời nhau, ngăn không cho lớp dầu bị phá hoại trong điều kiện tải trọng lớn và nhiệt độ cao.
Phụ gia biến tính FM làm giảm hệ số ma sát, bảo tồn được năng lượng, tiết kiệm được 2-3% nhiên liệu cho ôtô. Phụ gia FM được sử dụng khi cần tạo ra chuyển động trượt mà không có rung động và khi cần có hệ số ma sát nhỏ nhất.
Phụ gia FM bao gồm nhiều loại hợp chất chứa ôxy, nitơ, lưu huỳnh, molipden, đồng và các nguyên tố khác. Các phhụ gia này làm tăng độ bền của màng dầu chủ yếu do hiện tượng hấp phụ vật lý, nhờ đó làm giảm ma sát. Phụ gia này thường được pha với tỷ lệ 0,1 – 0,3 %.
Phụ gia hạ điểm đông đặc
Ở nhiệt độ thấp thì khả năng lưu động của dầu sẽ giảm, vì vậy cần pha các phụ gia hạ điểm đông đặc nhằm hạ thấp nhiệt độ đông đặc của dầu. Cần cho thêm một ít parafin có lượng O.R.azolin không quá 1%.
Phụ gia ức chế tạo bọt
Bọt do không khí trộn mạnh vào dầu nhờn ảnh hưởng xấu tới tính chất bôi trơn, làm tăng sự ôxy hóa của chúng, làm dầu bị tổn thất, ngăn cản sự lưu thông của dầu trong sự tuần hoàn, gây ra hiện tượng bôi trơn không đầy đủ. Để tránh hoặc giảm sự tạo bọt người ta sử dụng các loại phụ gia chống bọt. Chúng còn được gọi là các chất hủy hoặc phá bọt. Đó là hợp chất silicon và hydro có khả năng làm tan sủi bọt nhưng tỷ lệ này rất nhỏ: 0,001-0,004%. Phụ gia cho dầu nhờn bôi trơn là một hợp phần của công nghệ chất bôi trơn hiện đại, đặc biệt là đối với dầu động cơ.
Pha chế dầu động cơ
| Tỷ lệ, thành phần của dầu gốc và các phụ gia | |
| Thành phần dầu nhời thương phẩm | Trọng lượng, % |
| Dầu gốc | 71,5 – 96,2 |
| Chất tẩy rửa | 2 – 10 |
| Chất phân tán không tro | 1 – 9 |
| Kẽm di-ankyl di-thiophotphat | 0,5 – 3 |
| Phụ gia chống ôxy hóa và chống mài mòn | 0,1 – 2 |
| Chất biến tính ma sát | 0,1 – 3 |
| Chất hạ điểm đông đặc | 0,1 – 1,5 |
| Chất ức chế tạo bọt | 2 – 15 ppm |
Vấn đề pha chế dầu động cơ là một công việc khó khăn, phức tạp, tốn kém, đòi hỏi nhiều ngành kỹ thuật tham gia, nó cũng là sức mạnh cạnh tranh của các công ty dầu nhờn. Vậy thì tỷ lệ phụ gia pha như thế nào với dầu gốc sẽ tạo ra dầu thành phẩm chất lượng cao, không những làm giảm những mặt hạn chế của dầu gốc, nâng cao phẩm cấp đối với các chất đã có sẵn của dầu và tạo cho dầu nhờn những tính chất mới cần thiết. Trong thực tế, một vài loại dầu động cơ có thể chứa hơn 20% phụ gia các loại.
Nguồn: wikipedia.org
Rất nhiều đơn vị hiện đang tiến hành hiện đại hóa hệ thống điều chỉnh các tuabin hơi (TH), trong đó có cả các TH của Nhà máy Cơ khí Leningrađ. Mục tiêu của việc hiện đại hóa là khắc phục các khiếm khuyết trong hoạt động của các bộ phận và nâng cao tính kinh tế của TH bằng việc sử dụng các van điều chỉnh mới với các van và mặt tựa van có prôfin (biên dạng) kinh tế hơn, các cột thép trong TH có trục cam, áp dụng các phương pháp làm kín bằng kim loại lỏng, v.v., kể cả việc đáp ứng các yêu cầu tăng cao đối với chất lượng điều chỉnh sơ cấp TH, thực hiện bằng cách áp dụng rộng rãi hơn các hệ thống điện - thủy lực, gia tăng tỉ lệ điện tử.

Tuabin hơi công suất 220 MW
Một số vấn đề nảy sinh khi lựa chọn phương hướng và khối lượng hiện đại hóa. Đối với những khía cạnh đó, cần cân nhắc đến số lượng lớn TH đang và sẽ được xử lý, và đây cũng là những vấn đề cấp thiết trong khâu thiết kế TH mới.
Phần điện tử của các hệ thống điều chỉnh có thể được thực hiện trên cơ sở phần tử khác, tùy thuộc vào yêu cầu kỹ thuật và khả năng vật chất của khách hàng, nhưng giải pháp sơ đồ tương đối giống nhau. Kinh nghiệm cần thiết trong việc thực thi các giải pháp đó, trong đó kể cả việc chọn các thuật toán, đã tích lũy được kể cả trong hệ thống điều chỉnh tốc độ quay và công suất, cũng như trong việc sử dụng các thiết bị bảo vệ chống vượt tốc. Cũng có nhiều kinh nghiệm áp dụng các bộ biến đổi điện - thủy lực (BĐĐTL) thuộc các thành tựu mới nhất, thí dụ các cơ cấu chấp hành kiểu động cơ tuyến tính Exlar.
Phần cơ của hệ thống điều chỉnh được hiện đại hóa không phải bao giờ cũng là cơ bản và kinh nghiệm tích lũy được trong hoạt động của các bộ phận không phải bao giờ cũng được áp dụng triệt để. Cụ thể như việc hiện đại hóa TH kiểu K-200-100 bằng việc lắp đặt bộ biến đổi điện - cơ cho bộ truyền động trực tiếp của servomotor kiểu ngăn kéo thuộc các van điều chỉnh của xilanh cao áp - xilanh trung áp (hoặc chỉ xilanh cao áp trong các TH kiểu PT-80). Độ nhậy của hệ thống điều chỉnh có thể đã được cải thiện ít nhiều, nhưng tất cả các vấn đề cũ vẫn tồn tại, đã vậy lại còn vấn đề kiểm soát độ di trục của bơm dầu chính mà hậu quả sự cố của nó là đáng kể.
Ngoài ra với việc thay thế trên, vẫn còn một phần tử đáng nghi ngờ trong hệ thống phân phối hơi, đó là các cam (vấu) của bộ phân phối hơi. Vì không thể tính toán, chế tạo các cam này với đủ độ chính xác nên khó duy trì chúng ở trạng thái không đổi, điều chỉnh, và quan trọng hơn hết, rất khó hiệu chỉnh tại chỗ theo kết quả thử nghiệm. Phản ứng của TH khi thay đổi tần số lưới điện được xác định không chỉ bởi độ không nhậy của hệ thống điều chỉnh, mà còn bởi đặc tuyến “công suất - hành trình servomotor”. Nếu trong TH K-300-240 mà chỉ thay thế bộ điều chỉnh tốc độ kiểu cơ khí sang điện tử nhưng vẫn giữ nguyên bộ biến đổi điện - thủy lực chung thì cho dù các đặc tính của bộ biến đổi điện - cơ khí có hoàn thiện đi chăng nữa, vẫn không thể đạt hiệu quả cần thiết cho việc tuyến tính hóa đặc tính tĩnh “tần số quay - công suất”. Vì vậy đòi hỏi phải đặt bộ biến đổi điện - cơ khí riêng rẽ cho từng servomotor. Và đó mới thực sự là giải pháp đúng đắn hơn cả, bởi vì các servomotor điện - thủy lực riêng biệt với các cam điện tử sẽ đơn giản hóa việc giải quyết những vấn đề này.
Nhưng ở đây có thể có hai phương hướng thiết kế các servomotor điện - thủy lực.
Phương án thứ nhất: Bộ biến đổi điện - cơ khí liên hệ về mặt cơ khí với ngăn kéo (van trượt) cắt của servomotor bị động. Phương án thứ hai: Bộ biến đổi điện - cơ khí là bộ phận hợp thành của bộ biến đổi điện - thủy lực - tổng hợp (BĐĐTL-TH), tác động lên ngăn kéo cắt của servomotor bằng thủy lực. Cả hai phương án có thể được thực hiện với các đặc tuyến động lực khác nhau của bộ biến đổi điện - cơ khí. Ứng lực hoán vị càng lớn của bộ biến đổi điện - cơ khí có thể chỉ trong từng trường hợp đơn giản hóa đáng kể kết cấu của nó. Đồng thời cả hai phương án đó đều mặc định việc ứng dụng bộ cảm biến vị trí của servomotor làm mạch liên hệ ngược (mạch phản hồi).
Ngày nay ở các TH 300 và 800 MW đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm khả quan về hiện đại hóa và trên 5 năm vận hành các servomotor điện - thủy lực với việc ứng dụng bộ biến đổi điện - cơ (kiểu các bộ truyền động tuyến tính) trực tiếp nối với servomotor kiểu ngăn kéo do các hãng Interautomatics và Compressor Controls Corporation thực hiện trên các hệ thống với bộ biến đổi điện - cơ khí. Nhìn chung cũng có nhiều kinh nghiệm tốt trong vận hành các hệ thống điện - thủy lực của Nhà máy Cơ khí Leningrađ với việc ứng dụng bộ BĐĐTL-TH (trên 25 hệ thống, hơn 90 bộ BĐĐTL-TH) trong cả việc hiện đại hóa các hệ thống cũng như trong việc ứng dụng trên các TH khác nhau thuộc thế hệ mới, nghĩa là cả hai phương án đến nay đã chứng tỏ khả năng hoạt động tốt. Vậy tiếp đến cần phải làm gì?
Tiếp theo vấn đề đó được nghiên cứu từ quan điểm về điều kiện hoạt động của các bộ phận trong hệ thống điều chỉnh TH, và kể cả sự phát triển khả dĩ của các kết cấu hệ thống điều chỉnh và bản thân các TH và khi cân nhắc đến các tình huống đó, có thể phương án 2 được ưa chuộng hơn. Việc nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở các hệ thống điều chỉnh mới được chế tạo trong những năm gần đây cho các TH của Nhà máy Cơ khí Leningrađ.
Việc nghiên cứu triển khai bộ biến đổi điện - thủy lực - tổng hợp (BĐĐTL-TH) không có mối liên hệ cơ khí của bộ biến đổi điện - cơ khí với ngăn kéo cắt của servomotor (ví dụ sử dụng bằng sáng chế số 2154201 của LB Nga, theo đó tín hiệu từ bộ biến đổi điện - cơ khí và áp suất dầu từ đường bảo vệ tuabin được biến đổi thành áp suất thay đổi điều khiển ngắn kéo của servomotor) khi có mạch liên hệ ngược điện tử theo vị trí của servomotor cho phép thực hiện servomotor điều chỉnh, servomotor này có thể được bố trí không chỉ thẳng đứng, mà cả nằm ngang, và nói chung với bất kỳ độ dốc nào.
Việc sử dụng servomotor đó cho van stop đã cho phép Nhà máy Cơ khí Leningrađ thực hiện đối với TH thế hệ mới (T-150, K-110, v.v.) các khối phân phối hơi với van stop nằm ngang và một hoặc hai van điều chỉnh đặt đứng. Điều đó đơn giản hóa đáng kể bản thân các khối phân phối hơi và việc xếp đặt tuabin. Servomotor của van điều chỉnh trong các khối đó trước đây được thực hiện với liên hệ ngược cơ khí kiểu cam cho ngăn kéo cắt vì vào thời đó chưa có kinh nghiệm hoạt động với các servomotor “cam” điện tử, chưa có các dữ liệu về độ tin cậy của các bộ cảm biến vị trí của các servomotor và không có kinh nghiệm vận hành dài lâu các van điều chỉnh chống rung kiểu mới.
Hiện nay, khi tất cả những vấn đề đó đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, hoàn toàn hợp lý để tiếp tục phát huy bước sau: sử dụng các servomotor tương tự, nhưng với liên hệ ngược điện tử cho các van điều chỉnh, các van này cũng có thể bố trí nằm ngang hoặc nghiêng một góc bất kỳ. Những khối đó (thí dụ từ một van điều chỉnh về van stop) sẽ cho phép giảm đáng kể tổn thất áp suất trong toàn bộ hệ thống phân phối hơi, đặt các van gần xilanh hơn, đơn giản hóa phương pháp sấy các đường ống hơi khi khởi động tuabin và thao tác các van trong quá trình vận hành. Khả năng sắp xếp các khối van đó sẽ cho phép hiện đại hóa triệt để các hệ thống phân phối hơi của các TH K-300-240, K-800-240, v.v., trong đó chiều dài của các ống giữa các van thuộc xilanh cao áp và xilanh là đáng kể (hằng số thời gian của thể tích hơi khoảng 0,2 - 0,3 s khi sử dụng các khối van và tới 0,6 s khi các van stop được đặt riêng rẽ).
Chúng tôi cho rằng khả năng giảm các thể tích hơi đó, đặc biệt đối với các tuabin có hằng số thời gian của roto 5 - 7 s, sẽ là cấp thiết ngay cả trong tương lai và giải pháp đó là có triển vọng trong thiết kế.
Xung quanh servomotor đôi khi tạo ra chế độ bất thường về nhiệt độ và độ ẩm, dẫn đến tình trạng thiết bị điện và đặc biệt thiết bị điện tử ngừng hoạt động. Đôi khi nhân viên vận hành không thể đến gần thân cao áp của tuabin hơi do xì hơi trục van stop, xì hơi ở bộ chèn hơi. Lưu lượng dầu trong các servomotor khá lớn và mặc dầu có thể vận hành tạm thời ở các chế độ bất thường đó, nhưng dầu nhanh chóng bị hỏng.
Để nâng cao độ tin cậy vận hành khi đặt bộ BĐĐC trực tiếp lên ngăn kéo của servomotor nhất thiết phải đưa vào sơ đồ điều chỉnh các tín hiệu phản hồi (liên hệ ngược) từ các bộ cảm biến vị trí các servomotor của các van điều chỉnh (đôi khi của chính ngăn kéo) trong khi đó các chỉ số của các bộ cảm biến trở nên tới hạn xét trên quan điểm về độ tin cậy của bộ điều chỉnh.
Những điều kiện hoạt động của các bộ cảm biến đó có thể không thuận lợi không chỉ vì các chế độ nhiệt độ mà còn vì cả sự phát sinh rung của các van hoặc độ rung tăng cao của chính tuabin khi đi qua điểm tới hạn hoặc khi phát sinh độ rung tần số thấp.
Đối với các tuabin công suất lớn có nhiều servomotor của các van điều chỉnh, điều đó dẫn tới phức tạp hóa đáng kể sơ đồ điều chỉnh, làm tăng giá thành phần thiết bị và có thể chiếm hết công suất tính toán của bộ xử lý trung tâm. Ngoài ra xét về các điều kiện không thuận lợi trong sự hoạt động của các bộ cảm biến, ngay cả việc lắp dự phòng (tăng độ dư thừa lên gấp đôi) cũng có thể không nâng cao được độ tin cậy như mong muốn. Đương nhiên điều đó có thể không phải là trở ngại không vượt qua được.
Mặt khác, kinh nghiệm hiệu chỉnh cho thấy trong sơ đồ với bộ BĐĐTL-TH và servomotor có phản hồi cơ khí lên ngăn kéo của nó, việc sử dụng bộ cảm biến vị trí có thể chỉ giới hạn trong các nhiệm vụ về thông tin và hiệu chỉnh, nghĩa là không đưa tín hiệu của nó vào mạch điều chỉnh hoặc có đưa vào nhưng với chức năng hiệu chỉnh hạn chế.
Để thực thi đặc tuyến mở van cần thiết một cách tương đối chính xác, có thể sử dụng sơ đồ bộ chỉ vị trí đã được nghiên cứu triển khai trong quá trình tối ưu hóa thu nhận các đặc tuyến cho trước của servomotor, bao gồm sự liên kết của hai hàm số tuyến tính từng đoạn nối tiếp nhau, một hàm số trong đó là đặc tuyến tính toán, tức là sự phụ thuộc cần thiết của hành trình van vào tín hiệu điều khiển hệ thống điều chỉnh (dòng điều khiển từ hệ thống điều chỉnh - hành trình của servomotor), còn hàm số thứ hai là đặc tuyến thực nghịch đảo cũng của van đó (hành trình của servomotor - dòng điều khiển được đưa tới bộ biến đội điện - cơ khí).
Kết quả là tín hiệu đã hiệu chỉnh được đưa tới bộ BĐĐTL-TH để thu được đặc tuyến cho trước của van, có tính đến các sai lệch hiện hữu trong các đặc tuyến thực tế của các cụm. Trong sơ đồ trên, bộ cảm biến vị trí chỉ được sử dụng để hiệu chỉnh hệ thống, và sau đó tín hiệu của nó có thể loại bỏ khỏi mạch điều chỉnh. Trong trường hợp cần thiết, bộ cảm biến vị trí có thể được để lại trong vận hành liên tục để hiệu chỉnh những sai số nhỏ (về nhiệt độ, v.v.).
Những độ lệch nhỏ có thể bù bằng thành phần tích phân của hệ điều chỉnh chính (tần số quay, công suất, áp suất). Sơ đồ này đã được Nhà máy Cơ khí Leningrađ thử nghiệm khi hiện đại hóa các TH K-200-130 tại các Nhà máy nhiệt điện Maritsavostok-3 và Mariiska và đã cho thấy kết quả tốt. Ưu việt chính của sơ đồ là loại bỏ tất cả các bộ cảm biến vị trí của các servomotor không dẫn tới sự cần thiết của việc ngừng tổ máy, điều đó là ưu việt quan trọng nhất xét về quan điểm độ tin cậy của sơ đồ với bộ BĐĐTL-TH.
Một ưu việt nữa (đôi khi khá quan trọng) của sơ đồ đối với bộ BĐĐTL-TH là khả năng điều khiển hai (hoặc một số) servomotor chỉ nhờ một bộ BĐĐTL. Khả năng đó xuất hiện khi áp dụng việc phân phối hơi của các miệng phun trong trường hợp khi điểm bắt đầu mở một trong các van điều chỉnh nằm sau điểm mở hoàn toàn van điều chỉnh khác. Sơ đồ chỉ vị trí của các van trong phương pháp điều khiển đó phức tạp hơn đôi chút, nhưng vẫn duy trì được tất cả những ưu việt kể trên. Đối với một số TH, thí dụ K-300-240 của LMZ với 7 van điều chỉnh cao áp, việc áp dụng giải pháp trên có thể tiết kiệm được đáng kể.

Tuabin hơi K-800-240
Khi sử dụng bộ truyền động Exlar làm bộ biến đổi điện - cơ cho sơ đồ điều chỉnh tuabin hơi, cần phải duy trì độ tin cậy vận hành cho việc đóng van khi mất nguồn cung cấp hoặc các tình huống tương tự của toàn bộ mạch điều chỉnh tốc độ như một tầng bảo vệ đầu tiên chống lồng tốc tuabin. Các bộ truyền động loại GS được trang bị các động cơ lực, với bộ khuếch đại không có chổi than và vận hành giống như các servomotor không có chổi than. Bộ khuếch đại servo được sử dụng để quay motor, đồng thời đảm bảo khống chế tốc độ và mômen xoắn cũng như để khống chế số vòng quay và thời gian quay. Chuyển động quay biến thành chuyển động tuyến tính nhờ cơ cấu trục vít bánh răng hành tinh được lồng ghép vào bộ truyền động tuyến tính GS.
Phần tử “tinh vi” nhất trong bộ BĐĐTL-TH đòi hỏi lắp ráp kỹ lưỡng và hiệu chỉnh tốt là bộ biến đổi điện – cơ khí. Nếu sử dụng bộ truyền động tuyến tính (kiểu Exlar) để làm bộ biến đổi điện – cơ khí cho bộ BĐĐTL-TH, có thể không cần sử dụng hệ thống theo dõi trong bộ BĐĐTL-TH và sự di chuyển ngăn kéo của bộ BĐĐTL bằng chính bộ truyền động công suất nhỏ kiểu GS20-0302 với ứng lực tuyến tính cực đại khoảng 90 kg và hành trình toàn phần 5 mm. Khối lượng của bộ truyền động này khoảng 2,5 kg, cao gần 200 mm.
Nếu lợi dụng khả năng rộng lớn của các bộ điều chỉnh vi xử lý điện tử thì về nguyên tắc, servomotor của các van điều chỉnh và van stop thuộc bất cứ kiểu gì đều có thể thực hiện với phản hồi cơ khí tuyến tính (bằng cách đó đơn giản hóa và chuẩn hóa được kết cấu), còn đặc tuyến mở cần thiết thực hiện bằng các hàm số tuyến tính từng đoạn nêu trên. Triển vọng giải pháp sơ đồ đó sẽ cho phép hiệu chỉnh đặc tuyến mở các van điều chỉnh trong chế độ tự động, điều đó giảm thiểu đáng kể chi phí nhân lực cho việc bảo dưỡng hệ thống điều chỉnh.
Kết luận
1. Sử dụng van điều chỉnh với servomotor điện - thủy lực riêng lẻ cho phép đảm bảo chính xác hơn độ tuyến tính cho đặc tuyến tĩnh của hệ thống điều chỉnh tuabin hơi.
2. Sử dụng servomotor điện - thủy lực với bộ biến đổi điện - cơ, về cơ khí không liên hệ với ngăn kéo ngắt của servomotor điều khiển nó, cho phép tạo ra các khối phân phối hơi có mức tổn thất áp suất hơi thấp nhất và có nhiều điều kiện bố trí tốt nhất.
3. Sử dụng các bộ chỉ vị trí với việc ứng dụng tính liên tục của các hàm số tuyến tính từng đoạn đảm bảo sự hoạt động tin cậy và chất lượng cao của hệ thống điều chỉnh ngay cả khi các bộ cảm biến vị trí của các servomotor không hoạt động, các bộ cảm biến này có thể chỉ được sử dụng cho các mục tiêu phụ trợ. Đồng thời servomotor thủy lực có thể được thực hiện với phản hồi tuyến tính cho ngăn kéo ngắt của nó, điều đó làm đơn giản kết cấu của chính servomotor.

Theo: KHCN Điện số 5/200
Thiết bị̣ điện được đề cập ở đây là các loại thiết bị làm các nhiệm vụ: đóng cắt, điều khiển, điều chỉnh, bảo vệ, chuyển đổi, khống chế và kiểm tra mọi sự hoạt động của hệ thống lưới điện và các loại máy điện. Ngoài ra thiết bị̣ điện còn được sử dụng để kiểm tra, điều chỉnh và biến đổi đo lường nhiều quá trình không điện khác.
Thiết bị̣ điện là một loại thiết bị đang được sử dụng rất phổ biến có mặt trong hầu hết các lãnh vực sản xuất của nền kinh tế, từ các nhà máy điện, trạm biến áp, hệ thống truyền tải điện, đến các máy phát và động cơ điện trong các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, giao thông,... và trong cả lãnh vực an ninh quốc phòng.
Thiết bị̣ điện sử dụng ở nước ta hiện nay được nhập từ rất nhiều nước, rất nhiều hãng sản xuất khác nhau và đủ các thế hệ. Có cả các thiết bị đã có thời gian sử dụng 40 đến 50 năm, rất lạc hậu và các thiết bị rất hiện đại mới nhập. Chính vì vậy các quy cách không thống nhất, gây khó khăn cho vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa. Do qúa nhiều chủng loại thiết bị̣ điện với các tiêu chuẩn kĩ thuật rất khác nhau, nên trong sử dụng hiện nay nhiều khi không sử dụng hết tính năng và công suất của thiết bị hoặc sử dụng không đúng gây hư hỏng nhiều, làm thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế. Chính vì vậy việc đào tạo và cập nhập nâng cao kiến thức về thiết bị điện đặc biệt là các thiết bị mới cho các cán bộ kĩ thuật quản lí và vận hành thiết bị điện là một đòi hỏi rất cấp thiết. Giáo trình này nhằm trang bị những lí luận cơ bản, để hiểu nguyên lí làm việc, đặc điểm cấu tạo các loại thiết bị̣ điện thường dùng trong tự động truyền động, trong hệ thống điện và trong các lĩnh vực điều khiển máy điện,...nhằm giúp sinh viên các ngành năng lượng khi ra trường có thể lựa chọn, vận hành, sửa chữa, cải tiến thiết bị̣ điện hoặc một số bộ phận của thiết bị̣ điện, đặc biệt cung cấp những kiến thức làm cơ sở để tiếp cận các thiết bị hiện đại.
Phân loại thiết bị điện
Để thuận lợi cho việc nghiên cứu, vận hành sử dụng và sửa chữa thiết bị̣ điện người ta thường phân loại như sau:
a) Phân theo công dụng
+ Thiết bị̣ điện khống chế: dùng để đóng cắt, điều chỉnh tốc độ chiều quay của các máy phát điện, động cơ điện (như cầu dao, áp tô mát, công tắc tơ,...).
+ Thiết bị̣ điện bảo vệ: làm nhiệm vụ bảo vệ các động cơ, máy phát điện, lưới điện khi có quá tải, ngắn mạch, sụt áp,...( như rơle, cầu chì, máy cắt,...).
+ Thiết bị̣ điện tự động điều khiển từ xa: làm nhiệm vụ thu nhận phân tích và khống chế sự hoạt động của các mạch điện như khởi động từ,...
+ Thiết bị̣ điện hạn chế dòng ngắn mạch (như điện trở phụ, cuộn kháng,...).
+ Thiết bị̣ điện làm nhiệm vụ duy trì ổn định các tham số điện (như ổn áp, bộ tự động điều chỉnh điện áp máy phát,...)
+ Thiết bị̣ điện làm nhiệm vụ đo lường (như máy biến dòng điện, biến áp đo lường,...).
b) Phân theo tính chất dò̀ng điện
+ Thiết bị̣ điện dùng trong mạch một chiều.
+ Thiết bị̣ điện dùng trong mạch xoay chiều.
c) Phân theo nguyên lí làm việc
Thiết bị̣ điện loại điện từ, điện động, cảm ứng, có tiếp điểm, không có tiếp điểm,...
d) Phân theo điều kiện làm việc
+ Loại làm việc vùng nhiệt đới khí hậu nóng ẩm, loại ở vùng ôn đới, có loại chống được khí cháy nổ, loại chịu rung động,...
e) Phân theo cấp điện áp có
+ Thiết bị̣ điện hạ áp có điện áp dưới 3kV.
+ Thiết bị̣ điện trung áp có điện áp từ 3kV đến 36 kV.
+ Thiết bị̣ điện cao áp có điện áp từ 36kV đến nhỏ hơn 400 kV.
+ Thiết bị̣ điện siêu cao áp có điện áp từ 400 kV trở lên.
Các yêu cầu cơ bản của thiết bị điện
- Phải đảm bảo sử dụng được lâu dài đúng tuổi thọ thiết kế khi làm việc với các thông số kỹ thuật ở định mức.
- Thiết bị̣ điện phải đảm bảo ổn định lực điện động và ổn định nhiệt độ khi làm việc bình thường, đặc biệt khi sự cố trong giới hạn cho phép của dòng điện và điện áp.
- Vật liệu cách điện chịu được quá áp cho phép.
- Thiết bị̣ điện phải đảm bảo làm việc tin cậy, chính xác an toàn, gọn nhẹ, dễ lắp ráp, dễ kiểm tra, sửa chữa.
- Ngoài ra còn yêu cầu phải làm việc ổn định ở điều kiện khí hậu môi trường mà khi thiết kế đã cho phép.
Nếu điểm sương mà trên 0 độ C thì phương pháp sẽ là dùng máy sấy khí kiểu làm lạnh. tức là nó làm lạnh đến nhiệt độ điểm sương, do vậy mà nước bị ngưng lại, tại đây nó tách nước ra và lại tái hâm nóng khí nén nên. do vậy ta được khí nén khô ở điều kiện làm việc. ( lưu ý là nếu mà t môi trường thấp hơn t điểm sương thì nước lại ngưng tụ nhé).
với điểm sương khí nén dưới 0 độ thì ta phải làm theo nguyên lý khác, dùng chất hút ẩm ( có thể là bột nhôm, sicagel hay các chất hấp thụ nước khác). nó có 2 bầu thay phiên nhau, bầu này hút ẩm thì bầu kia tái sinh. nhược điểm của phương án này là thất thoát khí nén nhiều, nhưng nó là tiêu chuẩn cho các ngành dược phẩm, thực phẩm, nếu muốn cấp chứng chỉ WHO, GMP hay các chứng chỉ khác thì phải dùng cái này.
Theo Nguyễn Đình Quân

Cá tươi được cấp vào máy nhờ Vít tải – mà phần nhập cá nằm chìm dưới cốt sàn – như vậy thuận tiện cho việc nạp cá.
Quá trình trao đổi nhiệt ẩm diễn ra trong Máy sấy nhờ hệ thống cánh đảo quay liên tục, kết hợp với hút ẩm khỏi máy từ Quạt hút.
Vì quá trình cơ nhiệt - thải ẩm diễn ra rất mãnh liệt nên quá trình sấy rất nhanh, đạt năng suất rất cao. Máy sấy có kích thước rất gọn
Việc thải ẩm được bố trí qua bộ khử mùi bằng nước biển, sau đó môi chất được thổi vào buồng đốt lò hơi, tại đấy mùi được khử triệt để
Nội dung chủ yếu của sổ hướng dẫn thao tác bảo dưỡng tháp giải nhiệt là cung cấp phương thức vận hành cho người sử dụng, thao tác đúng theo phương cách và trình tự, sử dụng một cách an tòan, và phát huy tính năng tối đa của tháp giải nhiệt .
Người sử dụng không chỉ xem sổ hướng dẫn khi lắp ráp mà cần xem trong lúc bảo dưỡng, để hiểu biết kết cấu của tháp và phương thức bảo dưỡng .

1.Motor
3.Khung đỡ motor
4.Cánh quạt
5.Lưới bảo vệ cánh quạt.
6.vỏ bồn
7.lổ kiểm tra
8.đầu phun
9.ống phun
12. ống đứng
13. tấm tản nhiệt
14. nt đóng
15. thanh đỡ tấm tản nhiệt
16. chân đỡ vỏ bồn
17. lưới bảo vệ dưới
19. đế bồn
20. thiết bị chứa nước ra
22. thiết bị lọc nước
2 Kết cấu :
2.1 Gía đỡ
Chất liệu bằng xi mạ kẽm chống rỉ sét, nếu xử lý tốt trong việc bảo dưỡng, thì tuổi thọ của tháp giải nhiệt có thể đạt được trong vòng 5 năm, đế bồn, ống gió, và đế bồn chứa nước nóng làm bằng chất liệu FRP, có thể chống ăn mòn, so với chất liệu bằng sắt thì nhẹ hơn rất nhiều
2.2 Độ cao thân tháp
Theo tiêu chuẩn thiết kế, độ cao thân tháp so với các loại tháp giải nhiệt thì thấp hơn, nên sự tuần hoàn của máy bơm cũng thấp, song song thì điện năng tiêu thụ của máy bơm hao hụt ít .
2.3 Không gian thân tháp
Không gian của thân tháp đủ rộng, để cho nhân viên tiện kiểm tra hoặc sửa chữa .
2.4 Quạt gió
Ngoại hình được thiết kế đặt biệt, tốc độ chiều xoay thấp, tốc độ lượng gió lớn, độ ồn nhỏ .
2.5 Tấm cách nhiệt
Sử dụng màng PVC được xử lý lượn sóng thông qua nhiều năm nghiên cứu,xử lý chân không phù hợp cho việc trao đổi nhiệt tôt hơn.
2.6 Hệ thống khuyết tán nước
Thiết kế theo phương thức các ống phun quay theo chiều kim đồng hồ nhờ áp lực bơm.
Máy bơm và đường ống dẫn nước
A.Bản vẽ đi đường ống dẫn nước giữa tháp giải nhiệt và máy chiller, xin tham khảo như sau :

B. Khi đi đường ống, đường kính và độ dài của ống dẫn đế bồn chứa nước nóng và đường ống dẫn nước cố gắng đồng đều lẫn nhau .
C. Sử dụng đường kính ống dẫn cần phù hợp với nhu cầu lưu lượng nước của tháp giải nhiệt .
3. Những điểm cần lưu ý khi thao tác
3.1 Xung quanh khu vực lổ ống gió vào nên thoáng gió .
3.2 Xác định độ nghiêng của quạt nghiên đúng tiêu chuẩn v khoảng cách giữa quạt và ống thông gió có đủ độ hở không, tránh làm hỏng khi vận hành .
3.3 Sau khi kiểm tra những điểm nêu trên, khởi động công tắc, kiểm tra phương hướng xoay chiều của quạt có chính xác không ? sản sinh tiếng ồn bất thường hay bị siết quá khơng?
3.4 Vệ sinh đế bồn khi đưa vào hoạt động chính thức.
3.5 Vệ sinh đế bồn chứa nước lạnh, sau đó châm nước đến mực nước theo như yêu cầu .
3.6 Vận hành máy bơm tuần hòan, vệ sinh ống dẫn gió, đến khi đường ống nước và đế bồn chứa nước lạnh đủ khả năng tuần hoàn nước .
3.7 Đến khi máy bơm tuần hoàn hoạt động bình thường, mực nước trong đế bồn chứa nước lạnh sẽ có sự hao hụt một chút so với ban đầu, khi đó cần điều chỉnh lại van nước cho mực nước theo như nhu cầu .
Để mực nước và phần dưới tấm cách nhiệt có độ cao đồng đều .
3.8 Ap lực nước của van nước tự động châm nước , nên điều chỉnh dưới mức 3kg/cm2, để duy trì mực nước chính xác .
3.9 Hệ thống điện
A. Đường dẫn điện lắp đặt ở vị trí thích hợp .
B. Xác định lại công tắc đường dẫn điện, cầu trì và quy cách dây điện có phù hợp điện trợ mã lực và dòng điện quy định không,đồng thời tránh sự dụng điện 1 pha để vận hành và kiểm tra (A) khi hoạt động.
4 Khởi động tháp giải nhiệt
4.1 Khởi động quạt gió, kiểm tra hướng xoay chiều có chính xác không?(quạt gió quay theo chiều kim đồng hồ) hoặc có sản sinh ra tiếng ốn bất thường không ? Tiếp đó vận hành máy bơm .
4.2 Kiểm tra môtơ quạt có quá tải không ? tránh môtơ bị cháy hoặc sản sinh hiện tượng điện áp bị thấp .
4.3 Điều chỉnh van nước, để đế bồn chứa nước luôn luôn đủ nước cung cấp cho thiết bị .
4.4 Kiểm tra mực nước đế bồn chứa nước lạnh có duy trì mực nước theo yêu cầu không?
5 Vận Hành Tháp Giải Nhiệt
5.1 Sau khi vận hành từ 5-6 ngày, kiểm tra cánh quạt có chính xác không ? nếu nhưng bị lỏng, có thể điều chỉnh lại bằng cách điều chỉnh tăng đơ .
5.2 Sau khi vận hành được 01 tuần, nên thay lại lượng nước tuần hòan, để tránh bị bám bụi trong đường ống dần nước .
5.3 Hiệu suất giải nhiệt của tháp giải nhiệt không ít cũng lớn do ảnh hưởng bởi mực nước, nên cần duy trì mực nước trong đế bồn nước nóng.
5.4 Nếu mực nước trong đế bồn nước lạnh bị hụt, thì tuần hòan nước của máy nước và tính năng của máy làm lạnh đều bị ảnh hưởng, vì vậy cần duy trì mực nước nhất định .
5.5 Khi vận hành tháp giải nhiệt nảy sinh chấn động, do dòng điện quá tải hoặc nhiệt độ tăng cao, xin tham khảo những nguyên nhân và phương thức xử lý như sau :
BIỂU I : NGUYÊN NHÂN SỰ CỐ VÀ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT

6. Phương thức bảo dưỡng
Thông thường mỗi tháng thay đổi nước tuần hòan một lần, hoặc khi nước có hiện tượng bị đục, việc thay đổi lưu lựơng nước tuần là căn cứ vào nồng độ lượng nước để quyết định, đồng thời vệ sinh đế bồn chứa nước nóng và nước lạnh, nếu trong đế bồn nước nóng có chứa chất bận, cũng làm ảnh hưởng đến hiệu suất giải nhiệt của tháp .
7. Thời điểm ngưng máy để bão dưỡng
7.1 Nên để tuần hòan nước trong ống thóat ra ngoài, tránh khi mùa đông làm đông đặc nước trong ống dẫn nước dẫn đến bị nứt. Ong thóat nước của đế bồn chứa nước lạnh cần mở ra, để khi trời mưa, nước có thể thoát ra ngoài .
7.2 Khi máy ngưng hoạt động một khoảng thời gian, khi vận hành lại, cần kiểm tra điện trở của môtơ có bình thường không ? sau đó xin tham khảo mục thứ 4 của phương thức thao tác .
Nguyên tắc hoạt động: Tạo ra nhựa được chảy lỏng ở nhiệt độ nhất định và áp suất cao, sau đó được định hình bởi khuôn và làm lạnh. Sau khi kết thúc quá trình làm lạnh sản phẩm sẽ được đưa ra ngoài.
Các xe đầu kéo, xe buýt và tàu hỏa đều sử dụng phanh khí nén mà không lựa chọn phanh thủy lực bởi vì khi có hiện tượng rò rỉ, dầu phanh có thể bị chảy hết khỏi hệ thống hãm, còn phanh khí nén không bị như vậy. Mặt khác, các phương tiện vận tải hạng nặng (cả người và hàng hóa) yêu cầu về độ an toàn rất cao, một đoàn tàu với tải trọng hàng nghìn tấn hàng hóa, hàng trăm hành khách, với động năng lớn, tốc độ cao, sẽ trở thành đoàn tàu "tử thần" khi dầu phanh bị rò rỉ.

Mặt cắt dọc phanh khí nén.
Sử dụng hệ thống phanh nén khí trực tiếp, tức là sử dụng một máy nén khí cung cấp khí nén thông qua một đường ống dẫn vào bình chứa khí của mỗi toa tàu. Khi lái tàu nhấn phanh, các đường ống được nạp đầy khí nén để ép cứng các "má" phanh.
Năm 1869, một kỹ sư tên là George Westinghouse đã nhận ra tầm quan trọng của tính an toàn đối với ngành công nghiệp ĐS non trẻ lúc bấy giờ đã sáng chế ra hệ thống phanh khí nén sử dụng van ba ngả (còn gọi là van 3 cửa) đầu tiên, dùng cho xe chở khách chạy trên đường ray. Phanh của Westinghouse có nguyên lý hoạt động ngược hẳn so với hệ thống phanh khí nén trực tiếp. Van 3 ngả có 3 cửa nối với 3 đường khí khác nhau: một cửa dành cho ống dẫn chính từ bình tích khí, một cửa dẫn tới các xi lanh công tác của cơ cấu phanh và cửa còn lại thông với các bình chứa phụ; và như vậy, một hệ thống "can 3 ngả" sẽ thực hiện các chức năng sau: Nạp khí: hệ thống cần được nạp đầy khí nén thì mới có thể nhả phanh; nghĩa là khi đoàn tàu không hoạt động, nó luôn trong tình trạng được phanh. Chỉ khi áp suất trong hệ thống đạt tới mức thích hợp (thông thường là 5 kg/cm2) thì cơ cấu phanh mới thôi tác dụng, tàu hỏa sẵn sàng khởi hành. Hãm phanh: khi lái tàu kéo (đạp) phanh thì áp suất trong hệ thống sẽ giảm xuống. Khi lượng khí trong hệ thống giảm thì "van 3 ngả" sẽ cho phép khí hồi về các bình chứa, cơ cấu hãm sẽ thực hiện chức năng phanh (hãm tàu). Nhả phanh: sau khi thực hiện tác dụng phanh, một lượng khí nén sẽ bị xả ra ngoài, sau đó áp suất trong hệ thống được tăng để nhả phanh. Thay vì dùng lực cơ học hay áp suất khí nén trực tiếp để tác dụng phanh giống như phanh thủy lực hiện nay. George Westinghouse sử dụng một bình chứa luôn được cung cấp đầy khí nén ở áp suất công tác để nhả phanh. Nói cách khác, chế độ phanh trong hệ thống "van 3 ngả" luôn được duy trì hoàn toàn cho đến khi có một lượng khí nén bị đẩy ra ngoài không khí. Điểm an toàn nhất ở đây là giả sử toàn bộ khí nén bị rò rỉ hết ra ngoài thì mặc nhiên cơ cấu phanh sẽ được kích hoạt một cách tự động và cả đoàn tàu được hãm lại. Trong khi đó, nếu sử dụng phanh thủy lực, khi dầu phanh bị rò rỉ hết ra ngoài thì thực sự là một thảm họa

Đối với ngành chế biến thực phẩm, hệ thống cung cấp khí nén có vai trò khá quan trọng, hệ thống này thường tiêu tốn năng lượng khá lớn. Tuy vậy, việc sử dụng năng lượng hiệu quả ở khâu quan trọng này vẫn chưa được nhiều doanh nghiệp (DN) quan tâm. Ông Phạm Huy Phong, Trưởng Phòng Kỹ thuật Trung tâm Tiết kiệm Năng lượng TPHCM (ECC), phân tích: Nhiều DN lãng phí năng lượng ở khâu này là do chưa sử dụng hợp lý áp suất máy nén khí, dẫn đến lãng phí năng lượng.
Thực trạng thường thấy
Khảo sát hệ thống khí nén ở một DN sử dụng 2 máy nén khí trục vít hiệu Atlas Copco công suất điện 30 KW. Hai máy hoạt động luân phiên mỗi ngày và thời gian vận hành trong ngày là liên tục 24 giờ. Hai máy có chung một bình chứa khí nén thể tích 1,7 m3 và có chung đường ống phân phối khí nén. Khí nén được cài đặt trong khoảng 5,5 -6,5 kg/cm2.
Khí nén được DN này sử dụng cho các nhu cầu sau: Chủ yếu cung cấp cho các lò thanh trùng với áp suất khoảng 1,5 kg/cm2 trong suốt thời gian thanh trùng. Phần này chiếm khoảng 80% tổng nhu cầu khí nén.
Cung cấp khí nén phun sương hơi nước làm nguội cá sau khi hấp trong phòng làm nguội. Phần này chiếm khoảng 10% tổng nhu cầu khí nén.
Cung cấp khí nén cho các cơ cấu chấp hành khí nén trong dây chuyền chế biến cá. Phần này chiếm khoảng 10% tổng nhu cầu khí nén.
Vấn đề bất cập ở đây là: Khí nén được tạo ra từ máy nén khí ở áp suất 5,5 – 6,5 kg/cm2, tuy nhiên 80% lượng khí nén này được đưa vào sử dụng cho các lò thanh trùng chỉ ở áp suất 1,5 kg/cm2. Cần phải cài đặt áp suất khí nén ở mức cao là vì phải bảo đảm đủ cung cấp khí nén cho các lò thanh trùng ngay cả khi có một số lò trùng nhau về thời điểm bắt đầu thanh trùng. Tức là ngay cả những lúc xảy ra sự đột biến tăng về nhu cầu khí nén. Do lưu lượng khí nén trong trường hợp áp suất cao hay thấp khi sử dụng cho các lò thanh trùng đều như nhau nên việc cài đặt áp suất khí nén ở áp suất cao về mặt lý thuyết sẽ làm gia tăng công nén, gây lãng phí năng lượng cho hệ thống nén khí.
Cách hợp lý hóa áp suất máy nén khí
Sau khi khảo sát, chuyên viên ECC đã đưa ra giải pháp. Tách riêng phần khí nén dùng phun sương (10%) và phần khí nén cung cấp cho các cơ cấu chấp hành (10%) với phần khí nén cho các lò thanh trùng (80%) theo phương án sau:
Phần khí nén cung cấp cho các lò thanh trùng được cung cấp riêng biệt từ 1 máy nén hiện tại.
Phần khí nén cung cấp cho các cơ cấu chấp hành có thể có được bằng 2 cách: Sử dụng 1 máy nén còn lại (cài đặt ở 5,5-6,5 kg/cm2) hoặc đầu tư riêng một máy nén nhỏ có năng suất vừa đủ (máy khoảng 5Hp).
Phần khí nén cung cấp cho phun sương: Sử dụng chung máy nén còn lại hiện tại (cài đặt ở 5,5 - 6,5 kg/cm2) hoặc sử dụng chung máy nén đầu tư riêng thêm (lúc này cần máy có công suất điện khoảng 10 Hp) hoặc dùng các máy nén nước trực tiếp dùng cho việc phun sương (công suất khoảng 3 Hp).
Cài đặt áp suất hệ thống khí nén phần cung cấp cho các lò thanh trùng từ 5,5-6,5 kg/cm2 xuống 1,5-2,5 kg/cm2.
Thay thế động cơ máy nén cung cấp cho các lò thanh trùng từ công suất điện 30 KW xuống còn 18,5 KW hoặc giữ nguyên động cơ 30 KW nhưng lắp đặt biến tần điều khiển công suất động cơ.
Phương án thay đổi này, chi phí đầu tư là 110 triệu đồng. Trong khi đó, mỗi năm DN tiết kiệm được 76 triệu đồng. Như vậy, chỉ sau 17 tháng DN thu hồi được vốn đầu tư.
Bơm khí nâng cũng được sử dụng để tạo dòng, phun nước, nó hoạt động trên nguyên tắc khí được bơm xuống phần thân bơm dưới nước. Tại đây nó được pha trộn với nước tạo thành hỗn hợp khí + nước. Hỗn hợp này nhẹ hơn nước do đó được trào lên tạo thành dòng áp suất đưa nước lên qua thân bơm.
Bơm điện chìm có đặc điểm là toàn bộ bơm được đặt chìm dưới nguồn nước. Thực chất nguyên lý hoạt động của nó là loại bơm ly tâm kết hợp (multi stage centrifugal pump - 2). Điện năng truyền qua dây dẫn làm quay mô tơ. Nước được hút lên từ miệng hút nhờ lực hút từ cánh quạt của bơm ly tâm, sau khi vận chuyển qua thân bơm được đưa qua ống đẩy bơm lên… Ưu điểm của bơm này là gọn nhẹ, cơ động và hiệu suất cao. Nhược điểm của nó là khó sửa chữa nếu bị hư hỏng vì luôn yêu cầu cao về độ kín nước. Việc sử dụng bơm điện chìm có hai lưu ý nhỏ là phải dùng quai xách, không được dùng dây xách khi di chuyển và không bơm ở mực nước quá thấp vì rất dễ làm hư hại mô tơ do mô tơ không được làm mát.
Bơm ly tâm, chiếm đa số trên thị trường, dùng bơm nước trong gia đình hoặc sản xuất. Loại này hoạt động trên nguyên tắc lực ly tâm tạo ra nhờ sức quay của cánh bơm được dẫn động từ một mô tơ điện. Dưới tác dụng của lực ly tâm, dòng chất lỏng đẩy ra ngoài tạo ra vùng áp suất thấp trong thân bơm, nhờ đó nước được hút vào qua đường ống hút và đẩy ra qua đường ống đẩy. Việc mồi nước luôn luôn quan trọng và cần thiết đối với bơm ly tâm vì gia tốc của nước đẩy ra qua ống đẩy chính là nguồn gốc của lực ly tâm. Khi không có hoặc có quá ít nước trong thân bơm, tốc độ nước chuyển động sẽ không đủ lớn để tạo nên áp lực hút.
Bơm phun hoạt động trên nguyên tắc là dùng một bơm phụ hoặc khí nén tạo ra sự dịch chuyển ban đầu trong thân bơm. Sự dịch chuyển của dòng khí nén hay chất lỏng từ bơm phụ tạo ra vùng áp suất thấp phía sau thân bơm. Nhờ đó nước được vận chuyển qua thân bơm.
Bơm piston là loại chuyên dụng trong sản xuất, hoạt động nhờ tạo lực hút và lực đẩy hoàn toàn dựa vào hành trình nén và xả của piston trong xi lanh. Nguyên tắc làm việc của bơm piston rất đơn giản, nhưng hiệu suất lại rất cao. Tuy nhiên, hiện loại bơm này ít được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt và trong nông nghiệp vì hành trình của piston là chuyển động trượt. Điều đó hết sức bất lợi cho việc cơ khí hay điện khí hóa vì muốn chuyển từ chuyển động quay sang chuyển động trượt phải có thêm cơ cấu cam và cơ cấu biên tay quay (tay dên), cồng kềnh và phức tạp. Hiện nay nó vẫn được sử dụng trong các bơm truyền động thủ công như bơm hút khô dưới tàu thuyền, bơm xe đạp, xe máy. Chỉ đến khi hệ thống truyền động thủy lực và khí nén ra đời, bơm piston mới trở lại vị trí thống trị của nó trong công nghiệp vì ở hai loại truyền động hiện đại này việc điều khiển hành trình hút và nén của piston hoàn toàn nhờ vào áp suất của dòng khí nén hoặc chất lỏng.

Việc hiểu biết thêm về máy bơm nước dùng sử dụng trong gia đình sẽ giúp cho người tiêu dùng tránh được tình trạng mua không đúng loại cần dùng hoặc lắp đặt không đúng kỹ thuật gây tổn thất.
Muốn mua một loại bơm thích hợp, phải lưu ý đến các điểm sau:
- Độ cao giữa hai bể chứa, tính từ mặt nước bể chứa ở dưới đến mặt nước bể chứa ở trên.
- Thể tích của mỗi bể chứa.
- Nơi đặt máy bơm.
Sau khi có được những yếu tố đó, bạn hãy chọn loại bơm có độ cao tổng cộng, độ cao hút và độ cao xả thích hợp. Thường thì chọn bơm có trị số cao hơn 1,5 trị số thực tế là thích hợp. Ví dụ độ cao nhà là 10 m, thì chọn loại bơm có độ cao khoảng 13-15 m. Nếu bể chứa nhà bạn nhỏ, thì chỉ cần các loại bơm có công suất nhỏ và lưu lượng nước nhỏ (loại bể chứa 1 m3 thì chỉ cần loại máy bơm 125 W ( 1/2 H.P) và có số vòng quay lớn - từ 2000 rmp trở lên), còn loại máy bơm lớn hơn thì chọn loại có công suất lớn hơn là đủ.
Ngoài việc nắm biết loại bơm đó hoạt động như thế nào thì cần phải biết thêm các tính năng kỹ thuật quan trọng sau:
- Điện áp sử dụng: Chọn loại 220V/ 50Hz, ngoài ra trên thị trường cũng có loại 2 dòng điện 110V/ 220V hoặc máy bơm 3 pha.
- Lưu lượng bơm: Là lượng nước mà máy bơm vận chuyển trong một đơn vị thời gian: tính bằng m3/giờ hoặc lít/phút v.v... Trong máy thường ghi là Qmax, đó là lưu lượng tối đa, vì lưu lượng nước còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như độ cao, tốc độ, công suất máy v.v...
- Độ cao: Độ cao của mực nước thường ghi là H, có máy ghi là Hmax, Total H, tức là độ cao mà máy có thể hút từ mặt nước, giếng, hồ, bể chứa... Đây là độ cao tối đa nào đó mà máy vận chuyển nước lên bể chứa phía trên cao, tính theo chiều thẳng đứng. Thông thường, máy bơm không đưa nước đạt được đến độ cao như ghi ở máy mà chỉ đạt được khoảng 80%.
- Độ sâu hút nước: là độ sâu mà máy bơm hút được, tính từ mặt nước hồ, ao, giếng... đến tâm bánh công tác của bơm. Thông thường thì độ sâu sử dụng thực tế nhỏ hơn ghi trong máy, vì vậy khi lắp đặt máy càng gần mặt nước càng tốt.
- Độ cao cột áp: là độ cao mà máy bơm có thể đưa nước lên tới được.
- Tốc độ quay của bơm: là số vòng quay trên phút, được ghi là r.m.p .
- Công suất bơm: được ghi bằng W (Watt) hoặc bằng H.P ( Horse Power) (1 HP = 0,736kW,1 kW = 1,36 HP).
Cách lắp đặt một máy bơm để có hiệu quả tốt nhất?
- Lắp đặt máy càng gần nguồn nước càng tốt. Nên lắp chắc chắn, tránh máy bị rung khi vận động.
- Máy lắp càng gần mặt nước càng tốt. Tốt nhất đường kính ống vào phải đúng đường kính của lỗ gắn nước vào và cũng không được đặt sát ngang lỗ vào.
- Một số loại máy phải gắn hệ thống nước mồi đúng theo sự chỉ dẫn của máy.
- Nên có lưới lọc tránh rác rưởi làm nghẹt - hỏng máy.
- Lắp đường ống ra tốt nhất phải đúng đường kính của máy bơm, tránh làm gấp khúc, không dẫn đường ống ra lòng vòng làm mất hiệu suất của bơm. Ở đầu ra của bơm thường gắn thêm một van khóa để tiện việc điều chỉnh hoặc sửa chữa máy.
- Các đường ống dẫn vào và ra phải thật kín, mọi sự rò rỉ đều có thể làm hại cho máy khi vận hành.
- Điện thế nối vào máy phải đúng, nên lắp một cầu dao tự động, công suất dây điện phải đúng với công suất tải của máy và máy nối đất tốt.









